CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ THỊ TRƯỜNG VIỄN THÔNG CỦA LÀO 1. Những vấn đề chung về thị trường viễn thông Lào 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm viễn thông Thuật ngữ viễn thông (télécommunication) được đưa ra lần đầu tiên bởi nhà khoa học người Pháp Edouard Estaunie vào năm 1 4.
Theo đó, viễn thông là từ ghép của communication (liên lạc) và tele (có nghĩa là xa). Năm 2 1, Pete Moulton đưa ra định nghĩa "Viễn thông là khoa học của sự truyền đạt thông tin qua một khoảng cách dài sử dụng công nghệ điện thoại hoặc công nghệ vô tuyến, nó liên quan đến việc sử dụng các công nghệ vi điện tử, công nghệ máy tính và công nghệ máy tính cá nhân để truyền, nhận và chuyển mạch âm thanh, dữ liệu, hình ảnh qua các phương tiện truyền dẫn khác nhau như cáp đồng, cáp quang và truyền dẫn điện từ"[40, pp. 11] Tổ chức thương mại thế giới (WTO) trong bảng phân ngành cũng đưa ra định nghĩa: "Viễn thông là tất cả sự chuyển tải, truyền dẫn hoặc thu phát các ký hiệu, tín hiệu, chữ viết, âm thanh, hình ảnh, giọng nói, dữ liệu thông qua các dây dẫn, sóng vô tuyến, cáp quang, các phương tiện vật lý hoặc các hệ thống điện từ khác"[46]. Theo WTO, dịch vụ viễn thông được chia thành hai nhóm: dịch vụ viễn thông cơ bản và dịch vụ giá trị gia tăng.
Dịch vụ viễn thông cơ bản bao gồm tất cả các dịch vụ viễn thông công cộng và tư nhân cung cấp truyền dẫn thông tin đến thiết bị đầu cuối của khách hàng. Dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng là những dịch vụ viễn thông mà nhà cung cấp "bổ sung thêm các giá trị" cho các thông tin của khách hàng qua việc nâng cao hình thức hoặc nội dung của thông tin hoặc cung cấp nhằm lưu trữ và khôi phục thông tin. 11 z Ở Việt Nam, theo Pháp lệnh Bưu chính Viễn thông được Quốc Hội Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam khoá X thông qua ngày 25/5/2002 [37], dịch vụ viễn thông được định nghĩa là dịch vụ truyền ký hiệu, tín hiệu, số liệu, chữ viết, âm thanh, hình ảnh hoặc các dạng khác của thông tin giữa các điểm kết cuối của mạng viễn thông. Dịch vụ viễn thông cũng được phân chia thành dịch vụ viễn thông cơ bản và dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng.
Bên cạnh đó, Pháp lệnh Bưu chính Viễn thông còn bổ sung thêm dịch vụ kết nối internet, dịch vụ truy nhập internet và dịch vụ ứng dụng internet. Từ các định nghĩa trên về viễn thông, có thể đưa ra khái niệm tổng quát: Viễn thông là sự truyền tải nhiều loại thông tin qua một khoảng cách xa thông qua nhiều hình thức truyền dẫn khác nhau. Khái niệm thị trường viễn thông Theo nghĩa rộng, thị trường là nơi diễn ra các hoạt động mua bán, cung ứng một thứ hàng hóa, dịch vụ nhất định nào đó. Với nghĩa này thị trường được phân loại thành: thị trường gạo, thị trường cà phê, thị trường viễn thông… Theo nghĩa hẹp, thị trường chỉ một địa điểm nhất định để trao đổi hàng hóa và dịch vụ.
Với nghĩa này có nhiều loại thị trường như: thị trường Hà Nội, thị trường miền Bắc, thị trường miền Nam… Trong kinh tế học, thị trường được hiểu rộng hơn, là nơi diễn ra các quan hệ mua bán hàng hóa, dịch vụ giữa vô số những người bán và người mua có quan hệ cạnh tranh với nhau, bất kể là ở địa điểm, thời gian nào. Thị trường trong kinh tế học được chia thành ba loại: thị trường hàng hóa - dịch vụ (còn gọi là thị trường sản lượng), thị trường lao động và thị trường tiền tệ. Thị trường trong luận văn được hiểu là “nơi diễn ra các hoạt động mua 12 z bán, cung ứng một thứ hàng hóa, dịch vụ nhất định nào đó”. Từ đó, có thể đưa ra định nghĩa khái quát về thị trường viễn thông như sau: Thị trường viễn thông là nơi diễn ra các hoạt động mua bán, cung ứng các dịch vụ liên quan đến viễn thông.
Các dịch vụ liên quan đến viễn thông được giới hạn trong phạm vi nghiên cứu của luận văn là dịch vụ điện thoại (di động và cố định) và dịch vụ internet. Khái niệm về môi trường kinh doanh quốc tế Do khác nhau về điều kiện địa lý, trình độ phát triển kinh tế, trình độ nhận thức, tập quán… nên mỗi quốc gia tồn tại môi trường kinh doanh không giống nhau. Môi trường kinh doanh là sự tổng hợp và tương tác lẫn nhau giữa các yếu tố gây ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Môi trường kinh doanh quốc tế là tổng thể các môi trường thành phần như môi trường luật pháp, chính trị, kinh tế, cạnh tranh, tài chính… tác động và chi phối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, buộc doanh nghiệp tự điều chỉnh để thích ứng, nắm bắt cơ hội kinh doanh, đạt hiệu quả cao trong kinh doanh.
Môi trường kinh doanh quốc tế được cấu thành bởi nhiều yếu tố như: môi trường tự nhiên, chính trị, luật pháp, kinh tế, văn hóa, xã hội… Các yếu tố này không chỉ ảnh hưởng tới hoạt động và kết quả kinh doanh của các công ty nước ngoài đang hoạt động tại nước sở tại, mà còn ảnh hưởng cả đến kết quả hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh nội địa. Vì vậy, để có thể tiến hành kinh doanh có hiệu quả, các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế phải có sự am hiểu nhất định về các yếu tố trong môi trường kinh doanh nước ngoài. (1) Môi trường tự nhiên 13 z Các yếu tố về vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, tài nguyên thiên nhiên… ảnh hưởng không nhỏ đến các hoạt động kinh doanh. Quốc gia nào có vị trí thuận lợi, khí hậu ôn hòa, tài nguyên phong phú sẽ tạo thuận lợi rất lớn cho các nhà đầu tư nước ngoài trong việc tiết kiệm thời gian, chi phí và tránh những rủi ro trong kinh doanh.
Vì thế, doanh nghiệp muốn kinh doanh thành công trên vùng lãnh thổ của các quốc gia khác rất cần tìm hiểu kỹ về các đặc điểm tự nhiên của nước đầu tư nhằm tận dụng những lợi thế đã có và hạn chế những rủi ro bất khả kháng có thể xảy ra. (2)Môi trường chính trị Tính ổn định về chính trị của các quốc gia sẽ là một trong những yếu tố thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động trong môi trường nước ngoài. Không có sự ổn định về chính trị thì sẽ không có điều kiện để ổn định và phát triển kinh tế, lành mạnh hóa xã hội. Sự ổn định về chính trị thể hiện ở thể chế, quan điểm chính trị có được đa số nhân dân đồng tình hay không, hệ thống chính trị, đặc biệt là Đảng cầm quyền có đủ uy tín và độ tin cậy đối với nhân dân và các doanh nghiệp, công ty ở trong và ngoài nước hay không… (3) Môi trường luật pháp Luật quốc tế và luật của từng quốc gia có ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình và kết quả hoạt động của doanh nghiệp quốc tế.
Luật pháp quy định và cho phép những lĩnh vực, những hoạt động và hình thức kinh doanh nào mà doanh nghiệp có thể thực hiện kinh doanh và những lĩnh vực, hình thức, mặt hàng…doanh nghiệp không được phép hoặc hạn chế hoạt động. Hệ thống luật pháp minh bạch sẽ bảo vệ lợi ích chính đáng cho người tham gia kinh doanh, đảm bảo công bằng cho các bên và là cơ sở để giải quyết các tranh chấp có thể xảy ra. Do đó, các doanh nghiệp cần nắm chắc và am hiểu pháp luật của quốc gia muốn tiến hành đầu tư để có thể đưa ra những quyết định đúng đắn nhằm hạn chế rủi ro và tăng thu lợi nhuận. 14 z (4) Môi trường kinh tế Tính ổn định hay bất ổn định về kinh tế và chính sách kinh tế của một quốc gia nói riêng, của các quốc gia trong khu vực và thế giới nói chung, có tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp trên thị trường nước ngoài.
Tính ổn định về kinh tế, trước hết và chủ yếu là ổn định nền tài chính quốc gia, ổn định tiền tệ, khống chế lạm phát. Ngoài ra, quy mô và triển vọng phát triển của nền kinh tế cũng là yếu tố quan trọng liên quan trực tiếp đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp ở nước ngoài. Do đó, hoạt động trong môi trường kinh doanh quốc tế, các doanh nghiệp buộc phải có những kiến thức nhất định về kinh tế để có chiến lược kinh doanh phù hợp nhằm đạt được hiệu quả đầu tư cao nhất. (5) Môi trường văn hóa, xã hội Mỗi quốc gia, thậm chí từng vùng quốc gia, các dân tộc khác nhau có tập quán (sản xuất, kinh doanh, giao tiếp, tiêu dùng…), có lối sống, ngôn ngữ riêng.
Sự khác biệt về văn hóa dẫn đến sự khác nhau trong mô hình quản lý của các doanh nghiệp. Thị hiếu, tập quán của người tiêu dùng ảnh hưởng rất lớn đến nhu cầu. Bên cạnh đó, sự bất đồng trong ngôn ngữ cũng là rào cản đối với các hoạt động kinh doanh quốc tế. Do đó các công ty nếu muốn thâm nhập thành công vào thị trường nước ngoài cần thống nhất được việc sử dụng ngôn ngữ, nắm bắt được thị hiếu, tập quán của người tiêu dùng, thích nghi với sự khác biệt về văn hóa… Quy mô, cơ cấu dân số, điều kiện sinh hoạt, mức sống trình độ dân trí của dân cư… là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiêu thụ các sản phẩm, dịch vụ cũng như đảm bảo nguồn nhân lực cho các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Do đó, nhà kinh doanh cần có kiến thức nhất định về dân cư của nước sở tại để lựa chọn thị trường, lĩnh vực đầu tư hợp lý. Các yếu tố trong môi trường kinh doanh của thị trường viễn thông Lào 1. Môi trường tự nhiên của Lào Vị trí địa lý Nước cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào nằm ở trung tâm của tiểu vùng sông Mê Kông (GMS), 18 độ vĩ Bắc, 1 5 độ kinh Đông trên bán đảo Đông Dương. Lào là quốc gia duy nhất nằm trong khu vực Đông Nam Á không có đường thông ra biển.
Lào có biên giới giáp với 5 nước với độ dài toàn bộ đường biên khoảng 5.18 km, phía Bắc giáp Trung Quốc 505 km; Tây Bắc giáp Mianma 236 km; Tây Nam giáp Thái Lan 1.835 km; Nam giáp Campuchia 535 km và phía Đông giáp Việt Nam 2. Đây là một vị trí khá thuận lợi trong việc giao lưu thương mại và hợp tác với các nước láng giềng.