Chương I: Cơ sở lý luận và Thực tiễn về thu hút, sử dụng ODA. Chương II: Thực trạng thu hút ODA vào Ngành Viễn thông Việt Nam. Chương III: Một số giải pháp tăng cường thu hút, sử dụng ODA vào Ngành Viễn thông Việt Nam. 8 z CHƢƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THU HÚT, SỬ DỤNG ODA 1.
Khái quát về ODA 1. Khái niệm Theo cách hiểu chung nhất, hỗ trợ phát triển chính thức (tiếng Anh là Official Development Assistance, được viết tắt là ODA) là tất cả các khoản hỗ trợ không hoàn lại và các khoản tín dụng ưu đãi (cho vay dài hạn và lãi suất thấp của các Chính phủ, các tổ chức thuộc hệ thống Liệp hợp quốc, các tổ chức phi Chính phủ (NGO), các tổ chức tài chính quốc tế (IMF, ADB, WB.) giành cho các nước nhận viện trợ. ODA được thực hiện thông qua việc cung cấp từ phía các nhà tài trợ các khoản viện trợ không hoàn lại, vay ưu đãi về lãi suất và thời hạn thanh toán (theo định nghĩa của OECD, nếu ODA là khoản vay ưu đãi thì yếu tố cho không phải đạt 25% trở lên). Về thực chất, ODA là sự chuyển giao một phần GNP từ bên ngoài vào một quốc gia, do vậy ODA được coi là một nguồn lực từ bên ngoài.
Năm 1972, OECD đã đưa ra khái niệm ODA là “một giao dịch chính thức được thiết lập với mục đích chính là thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của các nước đang phát triển. Điều kiện tài chính của giao dịch này có tính chất ưu đãi và thành tố viện trợ không hoàn lại chiếm ít nhất 25%”. Về thực chất, ODA là sự chuyển giao một phần thu nhập quốc gia từ các nước phát triển sang các nước đang và chậm phát triển. Liên hiệp quốc, trong một phiên họp toàn thể của Đại hội đồng vào năm 1961 đã kêu gọi các nước phát triển dành 1% GNP của mình để hỗ trợ sự nghiệp phát triển bền vững về kinh tế và xã hội của các nước đang phát triển.
Theo Báo cáo nghiên cứu chính sách của Ngân hàng Thế giới (WB) xuất bản tháng 6/1999 có đưa ra định nghĩa về ODA như sau: “ODA là một phần của tài chính phát triển chính thức ODF, trong đó có yếu tố viện trợ không hoàn lại cộng với cho vay ưu đãi và phải chiếm ít nhất 25% trong tổng 9 z viện trợ thì gọi là ODA”. Đối với Việt Nam, ODA từ các nguồn song phương và đa phương là một nguồn tài chính bổ sung quan trọng cho Việt Nam trong công cuộc phát triển. Nguồn ODA hiện nay góp phần đẩy nhanh các hoạt động phát triển kinh tế-xã hội. Định nghĩa ODA nói trên cũng đã được Chính phủ Việt Nam sử dụng trong quy chế quản lý và sử dung nguồn vốn ODA ban hành kèm theo nghị định số17/2001/NĐ– CP ngày 4/5/2001 của Chính phủ, cụ thể: “Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) là hoạt động hợp tác phát triển giữa Nhà nước hoặc Chính phủ Việt Nam với nhà tài trợ, bao gồm: Chính phủ nước ngoài, các tổ chức liên chính phủ hoặc liên quốc gia; Hình thức cung cấp ODA bao gồm: ODA không hoàn lại; ODA vay ưu đãi có yếu tố không hoàn lại đạt ít nhất 25%…”.
Như vậy, qua các định nghĩa trên cho thấy: ODA chính là khoản vay kết hợp giữa “một phần cho vay ưu đãi” cộng với “một phần cho không”, trong đó yếu tố cho không có thể được hiểu là: phần cho không (không hoàn lại), hay vay với mức lãi suất thấp, hay thời hạn vay dài, thời gian ân hạn cao… tất cả quy ra “phần cho không” phải đạt ít nhất là 25% trong tổng sốvốn vay mới được gọi là ODA. Theo qui chế quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức ban hành kèm theo Nghị định số 131/2006/NĐ-CP ngày 9/11/2006 của Chính phủ thì ODA là hoạt động hợp tác phát triển giữa Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với nhà tài trợ là chính phủ nước ngoài, các tổ chức tài trợ song phương và các tổ chức liên quốc gia hoặc liên chính phủ. Một cách khái quát, ODA bao gồm các khoản viện trợ không hoàn lại, viện trợ có hoàn lại, hoặc tín dụng ưu đãi của các Chính phủ, các tổ chức liên Chính phủ, các tổ chức phi Chính phủ, các tổ chức thuộc hệ thống Liên hợp quốc (United Nations -UN), các tổ chức tài chính quốc tế dành cho các nước đang và chậm phát triển. Đặc điểm của ODA Vốn ODA là nguồn vốn có tính ưu đãi của các nước phát triển, các tổ chức quốc tế đối với các nước đang và chậm phát triển.
Với mục tiêu trợ giúp các nước đang và chậm phát triển, vốn ODA mang tính ưu đãi hơn bất cứ nguồn tài trợ nào khác. Thể hiện: + Khối lượng vốn vay lớn từ hàng chục đến hàng trăm triệu USD. + Vốn ODA có thời gian cho vay (hoàn trả vốn) dài, có thời gian ân hạn dài (chỉ trả lãi, chưa trả nợ gốc). Vốn ODA của WB, ADB, Ngân hàng Hợp tác quốc tế Nhật Bản (Japanese Bank for International Cooperation - JBIC) có thời gian hoàn trả là 40 năm và thời gian ân hạn là 10 năm.
+ Thông thường vốn ODA có một phần viện trợ không hoàn lại, phần này dưới 25% tổng số vốn vay. Ví dụ OECD cho không 20-25% tổng vốn ODA. Đây chính là điểm phân biệt giữa viện trợ và cho vay thương mại. + Các khoản vay thường có lãi suất thấp, thậm chí không có lãi suất.
Lãi suất giao động từ 0,5% đến 5% /năm (trong khi lãi suất vay trên thị trường tài chính quốc tế là trên 7% /năm và hàng năm phải thoả thuận lại lãi suất giữa hai bên). Ví dụ lãi suất của ADB là 1%/năm; của WB là 0,75% /năm; Nhật thì tuỳ theo từng dự án cụ thể trong năm tài khoá. Ví dụ từ năm 1997-2000 thì lãi suất là 1,8%/năm. Nhìn chung, các nước cung cấp vốn ODA đều có những chính sách và ưu tiên riêng của mình, tập trung vào một số lĩnh vực mà họ quan tâm hay có khả năng kỹ thuật và tư vấn (về công nghệ, kinh nghiệm quản lý).
Đồng thời, đối tượng ưu tiên của các nước cung cấp vốn ODA cũng có thể thay đổi theo từng giai đoạn cụ thể. - Vốn ODA thường kèm theo các điều kiện ràng buộc nhất định: Tuỳ theo khối lượng vốn ODA và loại hình viện trợ mà vốn ODA có thể kèm theo những điều kiện ràng buộc nhất định. Những điều kiện ràng buộc này có thể là ràng buộc một phần và cũng có thể là ràng buộc toàn bộ về kinh tế, xã hội và thậm chí cả ràng buộc về chính trị. Thông thường, các ràng buộc kèm theo thường là các điều kiện về mua sắm, cung cấp thiết bị, hàng hoá và 11 z dịch vụ của nước tài trợ đối với nước nhận tài trợ.
Ví dụ, Bỉ, Đức và Đan Mạch yêu cầu khoảng 50% viện trợ phải mua hàng hóa và dịch vụ của nước mình. Canada yêu cầu cao nhất, tới 65%. Thụy Sĩ chỉ yêu cầu 1,7%, Hà Lan 2,2%, hai nước này được coi là những nước có tỷ lệ ODA yêu cầu phải mua hàng hóa và dịch vụ của Nhà tài trợ thấp. Nguồn vốn ODA luôn chứa đựng cả tính ưu đãi cho nước tiếp nhận và lợi ích của nước viện trợ.
Các nước viện trợ nói chung đều không quên dành được lợi ích cho mình, vừa gây ảnh hưởng chính trị, vừa thực hiện xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tư vấn vào nước tiếp nhận viện trợ. - ODA là nguồn vốn có khả năng gây nợ: Một số nước do không sử dụng hiệu quả ODA có thể tạo nên sự tăng trưởng nhất thời nhưng sau một thời gian lại lâm vào vòng nợ nần do không có khả năng trả nợ (VD: Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) đã khuyến cáo khi vay nợ nước ngoài hãy cẩn thận tính toán độ chênh lệch trong giỏ ngoại tệ và tỉ giá. Đó là một trong những lý do khiến chi phí tuyến metro Bến Thành - Suối Tiên của Việt Nam từ khi được duyệt ban đầu là 1,1 tỉ USD nay lên đến 2,071 tỉ USD. Đáng nói là ODA bằng đồng yen đại đa số là nợ vay phải trả và kèm lãi suất không nhẹ, như món ODA viện trợ tiểu vùng Mekong mở rộng mới nhất.
Vốn vay bằng euro xây tuyến xe điện ở Hà Nội cũng lâm vào cảnh đội tỉ giá euro như thế). Vấn đề là ở chỗ vốn ODA không có khả năng đầu tư trực tiếp cho sản xuất, nhất là cho xuất khẩu trong khi việc trả nợ lại dựa vào xuất khẩu thu ngoại tệ. Do đó, trong khi hoạch định chính sách sử dụng ODA phải phối hợp với các nguồn vốn để tăng cường sức mạnh kinh tế và khả năng xuất khẩu. Phân loại ODA 1.
Theo tính chất - ODA không hoàn lại: là hình thức cung cấp vốn ODA mà nước tiếp nhận không phải hoàn lại cho các Nhà tài trợ. 12 z - ODA (hay còn gọi là tín dụng ưu đãi): là hình thức cung cấp vốn ODA của các Nhà tài trợ cho các nước cho vay với lãi suất và điều kiện ưu đãi sao cho các yếu tố không hoàn lại đạt không dưới 25% của tổng giá trị khoản vay. - ODA hỗn hợp: là các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc các khoản vay ưu đãi được cung cấp đồng thời với các khoản tín dụng thương mại nhưng tính chung lại yếu tố không hoàn lại đạt không dưới 25% của tổng giá trị các khoản vay đó. Theo hình thức hỗ trợ ODA chi theo hình thức hỗ trợ, có 2 loại: Hỗ trợ dự án 1) Các khoản cho vay dự án Các khoản vay dự án chiếm phần lớn nhất của vốn vay ODA, cung cấp tài chính cho các dự án như đường giao thông, nhà máy điện, thủy lợi, các phương tiện cấp nước và thoát nước.
Các khoản vay được sử dụng để mua sắm phương tiện, thiết bị, dịch vụ, hoặc để thực hiện các công trình dân dụng và có liên quan khác. 2) Các khoản cho vay Dịch vụ hoặc Kỹ thuật (Engineering Service (E/S) Loans) Các khoản vay dành cho các dịch vụ kỹ thuật đó là cần thiết ở cuộc khảo sát và lập kế hoạch các giai đoạn của dự án. Những dịch vụ này bao gồm các ý kiến của nghiên cứu khả thi, khảo sát trên các dữ liệu chi tiết về địa điểm dự án, thiết kế chi tiết và chuẩn bị hồ sơ mời thầu. Trong cùng một cách thức như cho vay dự án, hoàn thành nghiên cứu khả thi hoặc tương đương và xác nhận cần thiết và phù hợp tổng thể của dự án là điều kiện tiên quyết cho loại vay.