Chương 1: Cơ sở lý luận về nâng cao chat lượng nhân lực KH&CN Chương 2: Hiện trạng chất lượng nhân lực KH&CN và liên kết đào tạo tại Hải Dương. Chương 3: Liên kết nhà trường và doanh nghiệp theo mô hình dự án dé nâng cao chất lượng nhân lực KH&CN. Kết luận và khuyến nghị PHẢN NỘI DUNG CHUONG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VE NÂNG CAO CHÁT LƯỢNG NHÂN LỰC KH&CN Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế ngày một sâu sắc và toàn diện, đứng trước những xu thế và thách thức mới là toàn cầu hoá, công nghệ cao, đặc biệt là công nghệ thông tin, kinh tế tri thức, xã hội học tập, siêu xa lộ thông tin.
đặt ra cho giáo dục cao đăng, đại học Việt Nam những thách thức mới. Đảng va Nhà nước rất quan tâm đến vai trò của KH&CN gan liền với quá trình phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Nghị quyết 26 của Bộ chính trị nêu rõ “KH&CN la một động lực mạnh mẽ của quá trình đổi mới, ồn định tình hình và phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa, coi những người làm khoa hoc và công nghệ là đội ngũ đáng tin cậy, quý bau của Đảng và nhân dan ta ”. Nghị quyết Đại hội Đảng X: “Phải coi kinh tế tri thức là yếu tố quan trong của nên kinh tế và công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển mạnh các ngành kinh té và các sản phẩm kinh té có giá trị gia tăng cao dựa nhiêu vào tri thirc”’.
“Phát triển KH&CN ở nước ta phải phù hợp xu thé phát triển nhảy vọt của cách mạng khoa học - công nghệ trên thé giới. Cé gắng đi ngay vào công nghệ hiện đại đối với một số lĩnh vực then chốt và từng bước mở rộng ra toàn bộ nên kinh tế. Chú trọng phát triển công nghệ cao để tạo đột phá và công nghệ nhiêu lao động dé giải quyết việc làm ”. “Phát triển mạnh, kết hợp chặt giữa hoạt động KH&CN với giáo dục và đào tạo dé thực sự phát huy vai tro quốc sách hàng dau, tạo động lực thúc day nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển kinh tế tri thức.
Thong nhất định hướng giữa phát triển KH&CN với chan hưng giáo dục và đào tạo, phát huy quan hệ tương tác thúc đẩy lần nhau giữa hai lĩnh vực quốc sách hàng dau nay”. 10 Nhiệm vụ của giáo dục va dao tạo cũng được xác định: “Tiiép tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống các trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục ” thực hiện “chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá. ` thực hiện “giáo dục cho mọi nhà, cả nước trở thành xã hội học tập ”. Đề đạt được mục tiêu chiến lược nêu trên, giáo dục cao đăng, đại học Việt Nam phải tìm ra những giải pháp cơ bản nhằm vượt qua những thách thức.
Thách thức nổi bật của giáo dục chuyên nghiệp nước ta từ khi đổi mới, đặc biệt trong những năm gần đây là nhu cầu học ngày càng cao, trong khi đó điều kiện đầu tư cho giáo dục, đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất trang thiết bị dạy và học không tăng tương ứng, hệ quả tất yêu là chất lượng đào tạo không được đảm bảo dẫn đến hiệu quả, hiệu suất đào tạo ngày càng thấp. Thị trường lao động cần nhân lực chất lượng cao, số lượng lớn nhưng không thé thu nhận số lượng sinh viên tốt nghiệp đại học ngày càng nhiều nhưng chất lượng thấp. Thách thức thứ hai là xu thế toàn cầu hoá của nền kinh tế thế giới đòi hỏi giáo dục cao đăng, đại học Việt Nam phải hội nhập với giáo dục đại học khu vực và thế giới. Nếu toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới là một xu thế khách quan không thê đảo ngược thì giáo dục cao đăng, đại học Việt Nam cũng phải tự đôi mới để hội nhập mà điểm then chốt là phải phấn đấu vươn tới một chuẩn mực chung về chương trình đào tạo, về mô hình quản lí và đặc biệt là chuẩn về chất lượng và các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo.
Giáo dục cao đăng, đại học theo quan niệm mới được xếp vào “hệ thống sản xuất đặc biệt” bởi hiệu quả đóng góp từ cá nhân, những người có học vấn càng cao thì sẽ cống hiến cho nền kinh tế - xã hội càng lớn. Chu kỳ lợi nhuận mang lại trực tiếp từ giáo dục ngày càng rút ngắn. Các phát minh từ phòng thí nghiệm được triển khai thực hiện trong thời gian rất ngắn gần như là trực tiếp. Cùng với sự bùng né và phát triển mạnh mẽ của thông tin và kinh tế tri thức giáo dục đã trở thành một ngành sản xuất có lợi nhuận rất cao, được kết hợp chặt chẽ bởi ba yếu tố: giáo dục, nghiên cứu khoa học và sản xuất.
Phát triển giáo dục hiện nay không chỉ về quy mô và số lượng mà thực 11 chat van dé là chất lượng dao tạo, đội ngũ cán bộ giảng dạy có trình độ và uy tín của nhà trường. Cùng với vốn và sức lao động tri thức đã trở thành nhân tố quan trọng nhất, việc sản xuất ra tri thức tức là sang tạo cai mới đã trở thành hoạt động trọng yếu của nhân loại. Giáo dục cao đăng, đại học phải thích ứng với nhu cầu kinh tế và xã hội, sử dụng sức mạnh xã hội và sự điều tiết của thị trường dé từng bước phat triển. Chỉ khi nào giáo dục được xây dựng trên nền tảng của thị trường là sự kết hợp năng động của bốn thành phan: nha nước, thi trường, các lực lượng xã hội và cơ sở giáo dục thì mới có thể phát triển nhanh chóng và theo kịp các yêu cầu của thời đại.
Đề làm được điều này, cần xuất phát từ trình độ phát triển kinh tế- xã hội đất nước, từ thực tiễn của giáo dục cao đăng, đại học Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, cơ sở đào tạo phải xây dựng chiến lược vừa mang tính đột phá nhằm đi trước một bước trong việc cung cấp nguồn nhân lực có trình độ cao cho sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước, vừa khả thi, lại mang tính đặc thù của Việt Nam, một đất nước đang tiễn tới nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Khái niệm về nhân lực KH&CN Nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người gồm có thể lực và trí lực. Các tiềm năng về thé lực đã được khai thác tận dụng triệt dé, còn các tiềm năng về trí lực cũng được chú ý nhưng khai thác còn ở mức độ mới mẻ, chưa bao giờ cạn kiệt, vì đây là kho tàng tiềm năng và còn nhiều bí ân trong mỗi con người. Định nghĩa khác là nhân lực là toàn bộ số lượng người có thể làm việc khi cần thiết.
Lực lượng lao động là một bộ phận dân số bao gồm những người trong độ tuổi quy định có kha năng lao động có việc làm hoặc không có việc làm nhưng có nhu cầu làm việc. Nhân lực KH&CN được phát triển trên nền tảng của nguồn nhân lực, nó quyêt định việc nâng cao chat lượng và bô sung sô lượng nguôn nhân lực. 12 Tiếp cận từ chức năng nghề nghiệp thì nhân lực KH&CN được định nghĩa “Nhân lực KH&CN là toàn bộ những người có bằng cấp chuyên môn nao do trong một lĩnh vực khoa học và công nghệ và những người có trình độ kỹ năng thực tế tương đương mà không có bằng cấp và tham gia thường xuyên (hệ thong) vào hoạt động khoa học và công nghệ”. Định nghĩa của UNESCO nhân lực KH&CN (S&T personnel) là “Những người trực tiếp tham gia vào hoạt động khoa học và công nghệ trong một cơ quan, tổ chức và được trả lương hay thù lao cho lao động của họ, bao gom các nhà khoa hoc va kỹ su, kỹ thuật viên và nhân lực phụ trợ ”.
Trong phạm vi nghiên cứu đề tài khái niệm nhân lực KH&CN được hiểu là tập hợp những nhóm người tham gia vào hoạt động KH&CN trong các lĩnh vực: sản xuất- kinh doanh; Sự nghiệp (các viện, trường đại học); Hành chính quản lý với các chức năng nghiên cứu sáng tạo, giảng dạy, quản lý, khai thác sử dụng và tác nghiệp góp phần quyết định tạo ra sự tiến bộ của KH&CN, của sự phát triển kinh tế- xã hội. Nội hàm: Lực lượng hành chính, quản lý khoa học ở các loại hình cơ quan bao gồm các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý có trình độ cao, am hiểu về hoạt động KH&CN. Họ làm việc tại các cơ quan hành chính cơ quan quản lý chuyên nghiệp, các phòng ban ở trường học, học viện, trung tâm dịch vụ KH&CN. Lực lượng sự nghiệp có trình độ chuyên môn cao, chiếm số đông.
Họ làm việc ở các don vi sự nghiệp, giảng dạy ở các trường đại hoc, cao đăng, trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề. Họ không chỉ tham gia giảng day mà còn tham gia NCKH, chuyên giao công nghệ đối với các doanh nghiệp. Lực lượng hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh đoanh có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội. Với chức năng nghiên cứu, ứng dụng những thành tựu KH&CN và phát triển thực nghiệm.
Lực lượng trong lĩnh vực kinh tế- xã hội, sự nghiệp thường xuyên tiến hành công tác NCKH. 13 Trong nền kinh tế thị trường và xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế nên thường xảy ra các trường hợp di động xã hội, thay đổi nghề nghiệp, chức vụ. Dé có một khái niệm hoàn chỉnh về nhân lực KH&CN cần thiết phải xem xét các mô đun thành tố của hệ thống khoa học và công nghệ gồm: - Tạo công nghệ bao gồm nghiên cứu, sáng tạo để làm ra công nghệ trong nước và năm vững hiểu sâu về quá trình thử nghiệm, thích nghỉ và hoạt động thương mại hoá công nghệ nhập ngoại. - Áp dụng công nghệ là quá trình nắm vững thiết kế và kỹ thuật tiến tới làm chủ công nghệ dé xây dựng xí nghiệp, thử nghiệm, vận hành, sản xuất thử dé đi tới quá trình sản xuất liên tục và ôn định.
- Môi trường chính sách bao gồm cơ cấu chính sách, công cụ kế hoạch hoá, những luật lệ và thể chế hoá.trong việc thực thi chính sách về tài chính, các phương tiện vật chất và các chế tài kích cầu. - Cơ sở hạ tang bao gồm các tiêu chuẩn, cấp phát tài chính, các tổ chức tư van và công trình, các cơ quan về an toàn công nghiệp.