Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong nền kinh tế thị trường và xu thế hội nhập quốc tế sâu rộng, nhãn hiệu giữ vai trò là công cụ pháp lý quan trọng giúp doanh nghiệp định danh sản phẩm, dịch vụ, nâng cao năng lực cạnh tranh và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người tiêu dùng. Việc Việt Nam tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP và EVFTA đòi hỏi hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ phải liên tục được nội luật hóa và hoàn thiện nhằm đáp ứng các cam kết quốc tế, đồng thời kiến tạo môi trường kinh doanh minh bạch.

Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật Việt Nam về điều kiện bảo hộ nhãn hiệu vẫn bộc lộ một số hạn chế, thiếu tính đồng bộ hoặc chưa theo kịp sự phát triển của các dạng dấu hiệu thương mại mới. Những bất cập này gây trở ngại cho doanh nghiệp trong quá trình xác lập quyền, làm gia tăng nguy cơ xung đột pháp lý và tạo kẽ hở cho hàng giả, hàng xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp lưu thông. Đặc biệt, sau khi Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi, bổ sung năm 2022 chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2023, việc nghiên cứu có hệ thống về các tiêu chí bảo hộ nhãn hiệu trở thành yêu cầu cấp thiết.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận là làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật Việt Nam về điều kiện bảo hộ nhãn hiệu trên cơ sở đối chiếu với các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; từ đó chỉ ra những vướng mắc và đề xuất giải pháp hoàn thiện khung pháp lý.

Để thực hiện mục tiêu trên, khóa luận triển khai 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Phân tích và đánh giá chi tiết các quy định pháp luật hiện hành tại Việt Nam về điều kiện bảo hộ nhãn hiệu, đặc biệt làm rõ các tiêu chí cụ thể để xác định một nhãn hiệu đủ điều kiện được bảo hộ.
  2. Xem xét thực trạng áp dụng các quy định này trong thực tế, từ đó chỉ ra những khó khăn, bất cập hoặc hạn chế mà các tổ chức, cá nhân đang gặp phải trong quá trình đăng ký và bảo vệ nhãn hiệu.
  3. Đề xuất các giải pháp và khuyến nghị thiết thực nhằm hoàn thiện khung pháp lý, nâng cao hiệu quả bảo hộ nhãn hiệu, góp phần hỗ trợ các doanh nghiệp và tổ chức xây dựng, phát triển thương hiệu một cách bền vững và cạnh tranh trên thị trường.
  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận và hệ thống quy định pháp luật hiện hành liên quan đến điều kiện bảo hộ đối với nhãn hiệu tại Việt Nam.
  • Phạm vi nghiên cứu: Khung pháp lý Việt Nam hiện hành (trọng tâm là Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019, 2022; Nghị định số 65/2023/NĐ-CP; Thông tư số 23/2023/TT-BKHCN), đặt trong mối tương quan so sánh với các Điều ước quốc tế (Công ước Paris 1883, Hiệp định TRIPS 1994, Hệ thống Madrid, CPTPP 2018, EVFTA) và kinh nghiệm lập pháp của một số quốc gia/khu vực (Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống luận cứ dựa trên các văn bản pháp luật, điều ước quốc tế và mô hình lý luận chuyên ngành sở hữu công nghiệp:

  • Khung pháp lý quốc gia: Nghị định 197/HĐBT ngày 14/12/1982 của Hội đồng Bộ trưởng; Bộ luật Dân sự năm 1995 (Điều 785); Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019, 2022: Điều 4, Điều 6, Điều 8, Điều 72, Điều 73, Điều 74, Điều 105, Điều 121, Điều 123); Nghị định số 65/2023/NĐ-CP (Điều 77); Thông tư số 23/2023/TT-BKHCN (Điều 26).
  • Điều ước và hệ thống quốc tế: Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp (1883); Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (Hiệp định TRIPS 1994); Thỏa ước Madrid (1891) và Nghị định thư Madrid (1989); Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP 2018); Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA); Bảng phân loại quốc tế về hàng hóa và dịch vụ Nice (45 nhóm).
  • Pháp luật nước ngoài tham chiếu: Đạo luật Lanham năm 1946 (Hoa Kỳ); Quy định Hội đồng (EC) số 40/94 về Nhãn hiệu Cộng đồng (CTMR) và Quy định (EU) 2017/1001 về Nhãn hiệu Liên minh Châu Âu (EUTMR).

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử trên nền tảng quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các chủ trương, chính sách của Nhà nước về sở hữu trí tuệ. Các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành được áp dụng kết hợp gồm: phương pháp phân tích quy phạm, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh luật học, phương pháp thống kê và hệ thống hóa văn bản.

Nguồn dữ liệu của đề tài bao gồm văn bản quy phạm pháp luật, hồ sơ công bố văn bằng bảo hộ của Cục Sở hữu trí tuệ (như Bằng số 206279 cấp năm 2013, Bằng số 241798 cấp năm 2015), các công trình nghiên cứu khoa học liên quan tại Đại học Luật Hà Nội (luận văn thạc sĩ của Hồ Thị Thùy Trang năm 2023, Phan Thùy Linh năm 2021; khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn Thế Ngọc năm 2024, Nguyễn Anh Dương năm 2023) và các tài liệu, án lệ thực tiễn.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề về lý luận chung về nhãn hiệu và điều kiện bảo hộ nhãn hiệu

Chương 1 làm rõ quá trình phát triển của khái niệm nhãn hiệu từ lịch sử cổ đại (dấu vết trên tranh hang động, biểu tượng trên bình gốm) đến các văn kiện quốc tế của WIPO (1967) và Hiệp định TRIPS (Khoản 1 Điều 15). Khái niệm nhãn hiệu tại Việt Nam được hệ thống hóa qua từng thời kỳ: Nghị định 197/HĐBT (1982), Bộ luật Dân sự 1995 đến Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành ("dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau").

Tác giả phân tích 4 đặc điểm cốt lõi của nhãn hiệu:

  1. Tính phân biệt: Thực hiện chức năng định danh và phân định nguồn gốc thương mại (ví dụ: tên "Apple" dùng cho thiết bị điện tử có tính phân biệt cao, nhưng dùng cho trái cây sẽ mất tính phân biệt do mang nghĩa mô tả).
  2. Hình thức thể hiện cụ thể: Nhận biết được bằng các giác quan (chữ, hình, màu sắc, âm thanh; ví dụ biểu tượng cá sấu của Lacoste).
  3. Gắn liền với nhóm hàng hóa, dịch vụ cụ thể: Xác định theo Bảng phân loại Nice 45 nhóm (ví dụ: nhãn hiệu Samsung đăng ký riêng cho nhóm 9, nhóm 11, nhóm 36; nhãn hiệu Delta cho hàng không và Delta cho vòi nước).
  4. Gắn liền với chủ sở hữu cụ thể: Xác lập quyền tài sản độc quyền theo Điều 123 Luật Sở hữu trí tuệ (ví dụ: McDonald's kiểm soát các nhãn hiệu có tiền tố "Mac" hoặc "Mc").

Về phân loại, nhãn hiệu được phân chia theo: hình thức thể hiện (nhãn hiệu chữ, nhãn hiệu hình, nhãn hiệu kết hợp); chức năng (nhãn hiệu tập thể như "Gạo Nếp Cái Hoa Vàng Đông Triều" - Bằng số 206279; nhãn hiệu chứng nhận như "Yến sào Nha Trang" của UBND tỉnh Khánh Hòa - Bằng số 241798 nhóm 29, 43); danh tiếng và tính phổ biến (nhãn hiệu thông thường xác lập qua đăng ký; nhãn hiệu nổi tiếng xác lập trên cơ sở sử dụng theo điểm a Khoản 3 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ).

Chương này cũng phân định rõ nhãn hiệu với tên thương mại và chỉ dẫn địa lý:

Tiêu chí phân biệt Nhãn hiệu Tên thương mại (Khoản 21 Điều 4) Chỉ dẫn địa lý (Khoản 22 Điều 4)
Mục đích / Chức năng Phân biệt hàng hóa, dịch vụ giữa các chủ thể Phân biệt các chủ thể kinh doanh trong cùng lĩnh vực và khu vực Chỉ dẫn nguồn gốc địa lý, khẳng định chất lượng/danh tiếng gắn với vùng lãnh thổ
Chủ thể sở hữu Tổ chức, cá nhân đăng ký xác lập quyền Chủ thể kinh doanh mang tên gọi Nhà nước Việt Nam (Khoản 4 Điều 121); cấp quyền sử dụng cho chủ thể đủ điều kiện
Phạm vi bảo hộ Toàn quốc hoặc quốc tế (qua Hệ thống Madrid) Giới hạn trong khu vực kinh doanh thực tế Vùng địa lý xác định gắn liền với đặc tính sản phẩm
Cơ chế xác lập quyền Cấp văn bằng bảo hộ (trừ nhãn hiệu nổi tiếng) Tự động xác lập qua quá trình sử dụng thực tế Đăng ký xác lập quyền theo thủ tục luật định
Tính chuyển nhượng & Thời hạn Có thể chuyển nhượng; thời hạn có thể gia hạn Gắn liền với cơ sở kinh doanh; không chuyển nhượng độc lập Không được chuyển nhượng; bảo hộ vô thời hạn nếu duy trì đặc tính

Về lý luận điều kiện bảo hộ, chương 1 xác định điều kiện bảo hộ đóng vai trò là "bộ lọc" pháp lý mang 4 đặc điểm: tính pháp lý bắt buộc (Điều 72, 73); tính kép (hình thức thể hiện và khả năng phân biệt); tính loại trừ tuyệt đối (Điều 73 và Điều 8 - không trái đạo đức xã hội, trật tự công cộng); tính cân bằng lợi ích giữa chủ sở hữu, người tiêu dùng và xã hội. Đồng thời, tác giả tổng kết các quy định trong Công ước Paris (nguyên tắc đối xử quốc gia, quyền ưu tiên 06 tháng, nguyên tắc telle quelle Điều 6quinquies, nhãn hiệu nổi tiếng Điều 6bis), Hiệp định TRIPS (Điều 15, 16.2), Hệ thống Madrid, CPTPP (bảo hộ nhãn hiệu phi truyền thống như âm thanh, bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng đối với hàng hóa không tương tự tại Điều 18) và EVFTA (Điều 12.18, 12.21).

Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về điều kiện bảo hộ đối với nhãn hiệu

Chương 2 phân tích chuyên sâu các quy định cụ thể của Luật Sở hữu trí tuệ và văn bản hướng dẫn thi hành liên quan đến tiêu chí bảo hộ nhãn hiệu:

  1. Dấu hiệu nhìn thấy được: Theo Khoản 1 Điều 72 Luật Sở hữu trí tuệ và điểm a Khoản 2 Điều 26 Thông tư 23/2023/TT-BKHCN, dấu hiệu có thể là chữ cái, chữ số, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, hình ba chiều hoặc sự kết hợp. Tác giả phân tích chi tiết 9 trường hợp dấu hiệu chữ bị loại trừ khả năng phân biệt theo Khoản 3 Điều 26 Thông tư 23/2023/TT-BKHCN:
  • Ký tự thuộc ngôn ngữ người tiêu dùng Việt Nam không nhận biết (chữ Ả Rập, Slavơ, Phạn, Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Thái Lan), trừ khi có sự kết hợp đặc biệt (ví dụ: chữ "Thọ" đơn thuần bị từ chối, nhưng kết hợp hoa sen có thể được bảo hộ).
  • Ký tự La-tinh chỉ gồm 1 chữ cái, 1 chữ số, hoặc 2 chữ cái không thể đọc thành từ (ví dụ chữ "K" đơn lẻ bị loại trừ, nhưng chữ "K" cách điệu trong vòng tròn của "KEC" thì được chấp nhận).
  • Dãy ký tự lộn xộn, không theo quy luật (ví dụ: "ABCDEFG123").
  • Từ có nghĩa thông dụng trong ngành (ví dụ: "cà phê sạch").
  • Tên gọi thông thường của hàng hóa, dịch vụ (ví dụ: "sữa", trong khi "Vinamilk" được bảo hộ).
  • Từ mô tả trực tiếp đặc tính, chất lượng, công dụng (ví dụ: "tươi", "rẻ", "hữu cơ", "ngọt").
  • Từ mô tả nguồn gốc địa lý (ví dụ: "Hà Nội" cho bia bị từ chối nếu không kết hợp thành "Bia Hà Nội").
  • Từ mô tả hình thức pháp lý hoặc lĩnh vực kinh doanh (ví dụ: "ngân hàng", nhưng "Vietcombank" được chấp nhận).
  • Dấu hiệu trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với đối tượng sở hữu trí tuệ đã được bảo hộ (ví dụ: "Samzung" tương tự "Samsung").
  1. Dấu hiệu hình và dấu hiệu kết hợp: Khoản 4 Điều 26 Thông tư 23/2023/TT-BKHCN quy định 7 trường hợp dấu hiệu hình không có khả năng phân biệt: hình hình học đơn giản; hình vẽ quá phức tạp, rối mắt; hình dạng tiêu chuẩn của sản phẩm/bao bì; hình ảnh mô tả trực tiếp hoặc thuần túy thẩm mỹ; biểu tượng địa lý (như Chùa Một Cột, tháp Eiffel); trùng hoặc tương tự kiểu dáng công nghiệp; trùng hoặc tương tự đối tượng sở hữu trí tuệ khác. Đối với dấu hiệu kết hợp chữ và hình (Khoản 6 Điều 26), việc đánh giá dựa trên 4 trường hợp: cả hai thành phần đều có khả năng phân biệt (như Adidas); thành phần mạnh bù trừ thành phần yếu (như Starbucks); cách thức sắp xếp/kết hợp độc đáo; hoặc đạt được khả năng phân biệt qua quá trình sử dụng thực tế.

  2. Dấu hiệu âm thanh thể hiện dưới dạng đồ họa: Quy định tại Điều 72, Khoản 2 Điều 105 Luật Sở hữu trí tuệ và Điều 77 Nghị định 65/2023/NĐ-CP đặt ra điều kiện kép: âm thanh phải có khả năng phân biệt và phải thể hiện được dưới dạng đồ họa (khuông nhạc, phổ sóng). Hồ sơ đăng ký bắt buộc nộp kèm tệp âm thanh và bản mô tả đồ họa. Tác giả chỉ ra bất cập kỹ thuật khi chuyển đổi các âm thanh phức hợp (như âm thanh tự nhiên) sang dạng đồ họa và sự thiếu vắng tiêu chí định lượng cụ thể khi so sánh nhạc điệu, âm điệu để xác định yếu tố "tương tự gây nhầm lẫn".

  3. Khả năng phân biệt tự thân: Pháp luật áp dụng kỹ thuật tiếp cận loại trừ (Khoản 2 Điều 74 Luật Sở hữu trí tuệ và Khoản 4 Thông tư 23/2023/TT-BKHCN). Tác giả đánh giá ưu điểm là tạo khung loại trừ rõ ràng, nhưng nhược điểm là thiếu hướng dẫn tích cực về tiêu chuẩn sáng tạo tối thiểu, dẫn đến việc thẩm định còn mang tính định tính và phụ thuộc vào nhận định chủ quan của thẩm định viên.

Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật về điều kiện bảo hộ nhãn hiệu tại Việt Nam và một số giải pháp

Dựa trên mục lục và kết cấu công trình, chương 3 tập trung phân tích hai nội dung chính:

  • Thực tiễn áp dụng: Đánh giá các kết quả đạt được trong công tác thẩm định, tiếp nhận đơn đăng ký nhãn hiệu theo khung pháp lý mới; đồng thời chỉ ra các hạn chế, vướng mắc thực tiễn như thời gian thẩm định kéo dài, sự thiếu nhất quán trong đánh giá tính phân biệt và khó khăn khi xử lý các dạng nhãn hiệu phi truyền thống.
  • Hệ thống 5 nhóm giải pháp hoàn thiện:
    1. Giải pháp cải thiện quy trình đăng ký nhãn hiệu: Tối ưu hóa thủ tục hành chính, số hóa quy trình xét nghiệm đơn tại cơ quan quản lý sở hữu công nghiệp.
    2. Giải pháp cập nhật khung pháp lý cho phù hợp với xu hướng kỹ thuật số: Bổ sung các tiêu chí đánh giá nhãn hiệu trên môi trường Internet, thương mại điện tử và tài sản số.
    3. Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quy định pháp luật về điều kiện bảo hộ: Xây dựng quy chuẩn hướng dẫn kỹ thuật chi tiết để định lượng hóa tiêu chí phân biệt đối với nhãn hiệu chữ, hình và âm thanh.
    4. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi và chống hàng giả: Tăng cường sự phối hợp liên ngành giữa lực lượng quản lý thị trường, hải quan và tòa án trong xử lý xâm phạm quyền.
    5. Giải pháp nâng cao nhận thức của người tiêu dùng và cộng đồng: Tuyên truyền, phổ biến pháp luật sở hữu công nghiệp cho cộng đồng doanh nghiệp và người tiêu dùng.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả nghiên cứu chính:
    • Hệ thống hóa toàn diện các điều kiện bảo hộ nhãn hiệu theo Luật Sở hữu trí tuệ (sửa đổi 2022), Nghị định số 65/2023/NĐ-CP và Thông tư số 23/2023/TT-BKHCN;
    • Làm rõ cơ chế loại trừ dấu hiệu chữ (9 trường hợp), dấu hiệu hình (7 trường hợp), tiêu chuẩn đối với nhãn hiệu kết hợp (4 trường hợp) và cơ chế bảo hộ nhãn hiệu âm thanh;
    • Xây dựng tiêu chí so sánh phân định ranh giới pháp lý giữa nhãn hiệu với tên thương mại và chỉ dẫn địa lý;
    • Đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp toàn diện từ khâu lập pháp, quy trình thẩm định đến thực thi pháp luật.
  • Đóng góp so với các nghiên cứu trước: Khóa luận giải quyết khoảng trống nghiên cứu bằng việc cập nhật và phân tích sâu các điểm mới của Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2022 (có hiệu lực từ 01/01/2023), đặc biệt là cơ chế công nhận nhãn hiệu âm thanh và các hướng dẫn thẩm định mới nhất theo Thông tư 23/2023/TT-BKHCN – những nội dung mà các luận văn, khóa luận giai đoạn trước (năm 2021-2023) chưa có điều kiện phân tích thực chứng đầy đủ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do nguồn lực và thời gian nghiên cứu có hạn, đề tài tập trung chủ yếu vào các khía cạnh lý luận và quy phạm pháp luật thực định về điều kiện bảo hộ nhãn hiệu tại Việt Nam trong mối liên hệ với các điều ước quốc tế tiêu biểu; chưa mở rộng khảo sát sâu toàn bộ các dạng nhãn hiệu phi truyền thống khác (như nhãn hiệu mùi hương, vị giác, xúc giác) vốn chưa được pháp luật Việt Nam thừa nhận.
  • Hướng mở: Các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng đánh giá thực tiễn xét xử tranh chấp nhãn hiệu tại Tòa án sau khi áp dụng Luật sửa đổi 2022, hoặc nghiên cứu cơ chế bảo hộ nhãn hiệu phi truyền thống mới phát sinh trong không gian mạng và môi trường kinh tế số.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh: Chuyên ngành Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Kinh tế, Luật Thương mại quốc tế cần tài liệu tham khảo có cấu trúc hệ thống về điều kiện bảo hộ nhãn hiệu theo khung pháp lý mới.
  • Doanh nghiệp và tổ chức hành nghề đại diện sở hữu công nghiệp: Tham khảo các phân tích chuyên sâu tại Chương 2 (các trường hợp loại trừ dấu hiệu chữ, hình, âm thanh) để đánh giá khả năng bảo hộ của nhãn hiệu trước khi nộp đơn đăng ký.
  • Cơ quan quản lý và thực thi pháp luật: Tham khảo hệ thống giải pháp tại Chương 3 nhằm hoàn thiện quy trình nghiệp vụ và quy chế thẩm định nhãn hiệu.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, dấu hiệu chữ gồm một chữ cái La-tinh đơn lẻ hoặc một chữ Hán có được bảo hộ làm nhãn hiệu không?
Theo Khoản 3 Điều 26 Thông tư 23/2023/TT-BKHCN, một chữ cái La-tinh đơn lẻ (như chữ "K") hoặc một ký tự thuộc hệ thống ngôn ngữ không thông dụng với người tiêu dùng Việt Nam như chữ Hán (ví dụ chữ "Thọ") đứng đơn độc đều bị coi là không có khả năng phân biệt. Tuy nhiên, nếu chữ cái hoặc chữ Hán đó được thiết kế cách điệu về mặt đồ họa hoặc kết hợp với các yếu tố hình ảnh khác (như chữ "K" cách điệu trong "KEC" hay chữ "Thọ" kết hợp hình hoa sen) thì có thể được xem xét cấp văn bằng bảo hộ.

2. Điều kiện bắt buộc để một dấu hiệu âm thanh được đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tại Việt Nam là gì?
Theo quy định tại Điều 72 và Khoản 2 Điều 105 Luật Sở hữu trí tuệ (sửa đổi 2022), dấu hiệu âm thanh phải đáp ứng đồng thời hai điều kiện: (1) có khả năng phân biệt và (2) thể hiện được dưới dạng đồ họa (như khuông nhạc, nốt nhạc, phổ sóng tần số). Khi nộp đơn đăng ký, người nộp đơn bắt buộc phải nộp kèm cả tệp âm thanh và bản thể hiện đồ họa của âm thanh đó.

3. Điểm khác biệt căn bản về chủ thể sở hữu và tính chuyển nhượng giữa nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý là gì?
Nhãn hiệu thuộc sở hữu riêng mang tính độc quyền của tổ chức, cá nhân đăng ký và có thể được chuyển nhượng, định đoạt như một tài sản thương mại thông thường. Ngược lại, theo Khoản 4 Điều 121 Luật Sở hữu trí tuệ, quyền sở hữu chỉ dẫn địa lý của Việt Nam thuộc về Nhà nước; các tổ chức, cá nhân tại địa phương chỉ được trao quyền sử dụng và chỉ dẫn địa lý tuyệt đối không thể chuyển nhượng cho bất kỳ chủ thể nào ngoài khu vực địa lý đó.

4. Nhãn hiệu nổi tiếng có bắt buộc phải nộp đơn và được cấp văn bằng bảo hộ tại Cục Sở hữu trí tuệ để được bảo hộ không?
Không. Theo điểm a Khoản 3 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ, quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu nổi tiếng được xác lập trên cơ sở thực tiễn sử dụng rộng rãi và danh tiếng của nhãn hiệu trên thị trường, hoàn toàn không phụ thuộc vào thủ tục nộp đơn đăng ký hình thức tại cơ quan quản lý nhà nước.

5. Nhãn hiệu kết hợp giữa một thành phần chữ yếu và một thành phần hình yếu có thể được cấp văn bằng bảo hộ trong trường hợp nào?
Theo Khoản 6 Điều 26 Thông tư 23/2023/TT-BKHCN, nhãn hiệu kết hợp có các thành phần riêng lẻ không đủ mạnh vẫn có thể được chấp nhận bảo hộ nếu tổng thể cách thức sắp xếp, phối hợp màu sắc tạo nên ấn tượng độc đáo riêng biệt, hoặc nhãn hiệu đó chứng minh được đã đạt được khả năng phân biệt thông qua quá trình sử dụng và quảng bá thực tế trên thị trường.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Hoàng Long đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và chuẩn mực quốc tế về điều kiện bảo hộ nhãn hiệu. Công trình làm rõ thực trạng áp dụng pháp luật Việt Nam theo Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2022, Nghị định 65/2023/NĐ-CP và Thông tư 23/2023/TT-BKHCN, chỉ ra các vướng mắc trong thẩm định dấu hiệu chữ, dấu hiệu hình và dấu hiệu âm thanh. Các nhóm giải pháp được đề xuất mang tính hệ thống, góp phần nâng cao hiệu quả xác lập quyền và thực thi pháp luật sở hữu công nghiệp tại Việt Nam.