Chương 1. Khái niệm, đặc điểm của quyền sở hữu trí tuệ 1. Khái niệm của quyền sớ hữu trí tuệ Trí tuệ được hiểu là nhận thức lý tính đạt đến một trình độ nhất định, là năng lực riêng có của con người. Những thành quả do trí tuệ con người tạo ra thông qua hoạt động sáng tạo được thừa nhận là tài sản trí tuệ như là tác phẩm văn học, sáng tác âm nhạc, các phát minh, sáng chế, phần mềm công nghệ.
Sở hữu trí tuệ được hiểu là sự sở hữu đối với những tài sản trí tuệ như trên của tổ chức, cá nhân. Theo quy định của pháp luật, quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân với tài sản trí tuệ. Khai niém SHTT theo WIPO: Thuật ngữ “sở hữu trí tuệ” chỉ các sáng tạo tính thần bao gồm các sáng chế, các tác phẩm văn học nghệ thuật các biểu tượng, tên, hình ảnh, kiểu đáng sử dụng trong thương mại. Khải niệm quyên SỞ hữu trí tuệ theo Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam: Quyên sở hữu trí tuệ là quyền của tô chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyên tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng (Khoản 1 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đôi, bổ sung năm 2009, 2019 và 2022).
Quyên sở hữu trí tuệ là quyền đối với các sản phẩm sáng tạo trí tuệ, sử đụng và chuyên giao các đối tượng của quyên tác giả, quyên liên quan và quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng. Cũng như các quan hệ pháp luật dân sự khác, những tranh chấp liên quan đến việc xác lập quyền, sử dụng và chuyên giao các đối tượng thuộc quyền sở hữu trí tuệ cũng thường phát sinh trong xã hội. Việc bảo vệ quyên sở hữu trí tuệ là bảo vệ quyên tài sản của các chủ thê và được hiểu dưới hai phương diện sau đây: — Theo phương diện khách quan: Bảo vệ quyên sở hữu trí tuệ là tông hợp các quy định của pháp luật công nhận các chủ thê quyền sở hữu trí tuệ được bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp và các biện pháp xử lý hành vi xâm phạm quyên sở hữu trí tuệ được pháp luật thừa nhận. — Theo phương diện chủ quan: Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ là những biện pháp cụ thể được áp dụng để xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ tùy theo tính chất, mức độ xâm phạm.
Đặc điểm của quyền sở hữu trí tuệ SỞ hữu trí tuệ là một thuật ngữ chung cho một số tài sản vô hình: Tài sản vô hình nảy được hiểu là kết quả của quá trình tư duy, sáng tạo trong bộ não con người hay uy tín kinh doanh của các chủ thể và phải được pháp luật bảo hộ. Đặc tính này cho phép đối tượng sở hữu trí tuệ đi động một cách không có giới hạn, hiện diện ở nhiễu nơi nên việc thực hiện quyền năng chiếm hữu dạng tài sản này là không thể và không có ý nghĩa. Người khác không sử dụng được: Quyền độc quyền là quyền duy nhất để người khác không sử dụng được tài sản sở hữu trí tuệ. Ví dụ: ngăn cắm ăn trộm, ăn cắp, sao chép lậu, làm giả làm nhát,.
Đề người khác không sử dụng được thì phải đăng ký và được pháp luật quốc gia thừa nhận để thụ đắc quyền để cấm người khác sử dụng rồi mình mới có thê sử dụng lâu dài. Quyên sở hữu trí tuệ bị giới hạn về không gian (giới hạn về lãnh thổ): chủ thê quyền sở hữu trí tuệ chỉ được thực hiện quyền của mỉnh trong phạm vi lãnh thô nhất định theo quy định của Luật quốc gia hoặc các điều ước quốc tế mà quốc gia đó là thành viên. Ví dụ: Anh A (2015) đăng ký bảo hộ một sáng chế là chiếc máy gặt tại Việt Nam và được Pháp luật Việt Nam bảo hộ theo quy định của luật Việt Nam. Năm 2015 anh A sang Mỹ thì quyên này hiển nhiên không có giá trị tại Mỹ và nếu anh A muốn được quốc gia này công nhận và bảo hộ cho sáng chế của mình thì phải đáp ứng quy định về luật sở hữu trí tuệ tại Mỹ.
Quyên sở hữu trí tuệ giới hạn về mặt thời gian: cô thời hạn theo quy định của luật. Mang tính đổi mới, sáng tạo: do con người nghĩ ra. Nhiều người cùng sử dụng 1 lúc mà không mất đi giá trị: đặc điểm này khác với tài sản hữu hình, tài sản hữu hình thì gắn với giá trị sử dụng, càng nhiều người sử dụng thì càng mắt đi giá trị. Nhưng quyên sở hữu trí tuệ mang đặc tính là tài sản vô hình và có tính độc quyên, dựa vào việc ai đó đã đăng kí để đặc quyền chứ không phải là người đang cầm nam vat trong tay theo đó người có quyên sở hữu trí tuệ đối với I sản phẩm có quyền cho phép hoặc không cho phép ai đó sử dụng sản phẩm của mình, và chỉ có người này mới có quyên làm điều đó thì do đó sở hữu trí tuệ có thể di chuyến linh hoạt mà không mất đi giá 2.
Sơ lược quá trình phát triển của hệ thống pháp luật SHTT trên thế giới và Việt Nam Trước thập niên 80 của Thế kỷ XX, ở Việt Nam sở hữu trí tuệ về thực chất chưa có khái niệm. Trên thực tế, việc khuyến khích cá nhân, tìm ra được những giải pháp dưới hình sáng kiến, cải tiến kỹ thuật hợp lý hóa sản xuất được áp dụng trong các xí nghiệp (doanh nghiệp) quốc doanh. Những sáng kiến cải tiễn kỹ thuật chủ yếu nhằm giảm bớt lao động cơ bắp của người công nhân, tiết kiệm nguyên liệu, nhiên liệu và năng lượng trong sản xuất có kế hoạch được tập trung cao độ theo pháp lệnh cụ thê - “chỉ tiêu pháp lệnh”. Khẩu hiệu thê hiện tư tưởng quyết tâm, có chủ đích và đầy khát vọng chủ quan củaý thức hệ tư tưởng tốn tại dai đẳng trong đội ngũ công nhân quốc doanh và lan truyền rộng rãi trong cộng đồng dân cư trong phạm vi toàn miền Bắc Việt Nam.
Khẩu hiệu sản xuất: “Nhanh, nhiều, tốt, rẻ” đã được xem như một tư tưởng chỉ đạo, ảnh hưởng đến ý thức hệ của đội ngũ công nhân và nông dân lao động. Tuy nhiên, trong giai đoạn thập niên 60 đến 80 thế kỷ XX, tư tưởng này cũng đã được thê hiện bằng hành động cụ thê của đội ngũ người lao động, những cá nhân lao động điển hình có sáng kiến, cải tiễn kỹ thuật trong sản xuất tại các nhà máy, Xí nghiệp quốc doanh như một động lực tăng năng suất lao động trong điều kiện nền sản xuất thủ công, cơ khí hóa từng bước. nhằm thoát nghèo và lạc hậu. Sở hữu trí tuệ bước đầu được xác định về khái niệm tại Việt Nam từ khi có Pháp lệnh bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp năm 1989 và Pháp lệnh bảo hộ quyền tác giả năm 1994.
Nếu tính thời gian Việt Nam có pháp luật về sở hữu trí tuệ đến năm 2024 này, đã có tuổi 35 năm (1989 - 2024). Với chính sách mở cửa và hội nhập quốc tế, Việt Nam là thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WT0) từ năm 1995. Với nhu cầu quan hệ kinh tế và thương mại với các nước trong tô chức thương mại thế giới, quan hệ trong khu vực, quan hệ với các nước trên thế giới, Việt Nam đã xây dựng một hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ để đáp ứng nhu cầu hội nhập quốc tế. Kê từ việc Chính phủ ban hành các Nghị định điều chỉnh từng nhóm đối tượng riêng biệt của quyền sở hữu trí tuệ và năm 1995, Bộ luật Dân sự đầu tiên của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được ban hành, về quyền sở hữu trí tuệ được quy định tại Phần thứ VI của Bộ luật là: “Quyền sở hữu trí tuệ và chuyền 9 giao công nghệ”.
Quy định về quyên tác giả Điều 745 đến Điều 779: quy định về quyền sở hữu công nghiệp từ Điều 780 đến Điều 825. Tiếp theo Bộ luật Dân sự năm 1995 quy định về quyền sở hữu trí tuệ và chuyền giao công nghệ, Chính phủ ban hành Nghị định số 63/1996/NĐ-CP ngày 24 tháng 10 nam 1996 quy định chỉ tiết về sở hữu công nghiệp. Một bước phát triển mới của pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ là Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 được ban hành. Luật Sở hữu trí tuệ được ban hành đáp ứng kịp thời yêu cầu phát triển đất nước và hội nhập quốc tế của Việt Nam.
Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 được sửa đổi, bố sung một số điều năm 2009, 2019, 2022 nham khắc phục những bất cập và đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, thương mại của đất nước trong quá trình hội nhập quốc tế của nước ta. Căn cứ vào hệ thống các văn bản pháp luật về sở hữu trí tuệ ở Việt Nam từ hiệu lực cao là Luật Sở hữu trí tuệ (sửa đổi, bổ sung nam 2009, 2019, 2022), các văn bản dưới luật như nghị định, các thông tư quy định và hướng dẫn thi hành Luật Sở hữu trí tuệ ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Vai trò, ý nghĩa của bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Khoa học, công nghệ và nghệ thuật sáng tạo ngày nay có ý nghĩa quyết định đến cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Những bước tiến lớn của khoa học, công nghệ từ các thé ky trước đã đưa loài người thoát ra khỏi hỉnh thái kinh tế - xã hội lạc hậu và phát triển liên tục đến ngày nay.
Pháp luật quốc tế và pháp luật của hầu hết các quốc gia đều công nhận và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) của các tô chức, cá nhân nhằm khuyến khích hoạt động sáng tạo trong mọi lĩnh vực, bảo đảm cho việc phổ biến tiền bộ khoa học, công nghệ, văn hóa nghệ thuật vào mục đích phát triển xã hội mà không bị người khác đánh cắp. Trong những năm qua, hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ không ngừng được hoàn thiện với mục tiêu bảo đảm quyên lợi cho các đối tượng liên quan và tạo một môi trường cạnh tranh lành mạnh. Bảo hộ quyên sở hữu trí tuệ đã mang lại nhiều vai trò và ý nghĩa to lớn, là một phân không thể thiếu trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay. Báo hộ quyền sở hữu trí tuệ khuyến khích hoạt động sáng tạo Hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ mang lại cho các chủ thé sáng tạo cơ hội để có thu nhập.