CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KIỂU DÁNG CÔNG NGHIỆP VÀ TÁC PHẨM MỸ THUẬT ỨNG DỤNG 1. TỔNG QUAN VỀ KIỂU DÁNG CÔNG NGHIỆP VÀ TÁC PHẨM MỸ THUẬT ỨNG DỤNG 1. Kiểu dáng công nghiệp 1. Khái niệm Trước khi Luật sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11, ngày 29 tháng 11 năm 2005 được ban hành, pháp luật sở hữu trí tuệ là một phần của Bộ luật dân sự số 44-L/CTN ngày 28 tháng 10 năm 1995.
Thời điểm xây dựng ban đầu, tài sản sở hữu trí tuệ nói chung và quyền sở hữu trí tuệ được xác định là một tài sản dân sự và được quy định tại phần thứ sáu của Bộ Luật dân sự 1995. Trong đó, Điều 784 Bộ Luật dân sự 1995, định nghĩa: “kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của sản phẩm, được thể hiện bằng đường nét, hình khối, màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố đó, có tính mới đối với thế giới và dùng làm mẫu để chế tạo sản phẩm công nghiệp hoặc thủ công nghiệp”. Đến năm 2005, Luật sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11, được ban hành, quyền sở hữu trí tuệ được tách thành một lĩnh vực độc lập. Khoản 13 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 quy định: “kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của sản phẩm được thể hiện bằng hình khối, đường nét, màu sắc, hoặc sự kết hợp những yếu tố này.” Khái niệm kiểu dáng công nghiệp được quy định tại khoản 13 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ đơn giản, tinh gọn và bao quát hơn so với quy định được nêu tại Bộ luật dân sự 1995.
Theo đó, các điều kiện bảo hộ của kiểu dáng công nghiệp như “tính mới” và “dùng làm mẫu để chế tạo sản phẩm công nghiệp hoặc thủ công nghiệp” đã được lược bỏ. Định nghĩa về kiểu dáng công nghiệp được thể hiện đơn giản, dễ hiểu hơn và không bị giới hạn phạm vi trong lĩnh vực công nghiệp hoặc thủ công nghiệp như năm 1995. Tuy nhiên, so với quy định được nêu trong Nghị định 63-CP ngày 24/10/1996 thì các điều kiện để kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ đã được tách thành một quy định riêng và chặt chẽ hơn, theo đó, một kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ phải 8 thoả mãn các điều kiện được quy định tại Điều 58 Luật sở hữu trí tuệ 2005 bao gồm: tính mới, tính sáng tạo và khả năng áp dụng công nghiệp. Năm 2009, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ số 36/2009/QH12 được ban hành, quy định kiểu dáng công nghiệp không có sự thay đổi so với Luật sở hữu trí tuệ.
Năm 2019, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật kinh doanh bảo hiểm, luật sở hữu trí tuệ số 42/2019/QH14 được ban hành, Luật sở hữu hữu trí tuệ 2005 lần nữa được sửa đổi, trong lần sửa đổi này, định nghĩa về kiểu dáng công nghiệp vẫn được giữ nguyên theo quy định trong Luật Sở hữu trí tuệ 2009. Trong giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2019 Luật sở hữu trí tuệ đã sửa đổi hai lần, thế nhưng định nghĩa kiểu dáng công nghiệp được sửa đổi vào năm 2009 vẫn được duy trì sử dụng, điều này cho thấy định nghĩa kiểu dáng công nghiệp cơ bản hoàn chỉnh và đáp ứng đủ điều kiện để có thể bảo hộ cho các sản phẩm là đối tượng bảo hộ của kiểu dáng công nghiệp trong hơn 10 năm. Đến năm 2022, Luật sở hữu trí tuệ 2022 ban hành, định nghĩa “kiểu dáng công nghiệp” được điều chỉnh thành: “Kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của sản phẩm hoặc bộ phận để lắp ráp thành sản phẩm phức hợp, được thể hiện bằng hình khối, đường nét, màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố này và nhìn thấy được trong quá trình khai thác công dụng của sản phẩm hoặc sản phẩm phức hợp”. Trong định nghĩa này, các đặc tính hình khối, đường nét, màu sắc hoặc sự kết hợp của các yếu tố hình khối, màu sắc vẫn được giữ nguyên.
Tuy nhiên, điều kiện để một sản phẩm được xem là kiểu dáng công nghiệp lại ghi nhận thêm “phải nhìn thấy được trong quá trình khai thác công dụng của sản phẩm hoặc sản phẩm phức hợp”. Việc bổ sung điều kiện này, không nhằm mục đích mở rộng hoặc thu hẹp định nghĩa kiểu dáng công nghiệp, việc bổ sung nội dung này nhằm cụ thể hoá định nghĩa kiểu dáng công nghiệp, giúp định nghĩa kiểu dáng công nghiệp trở nên rõ ràng hơn và không làm thay đổi quy định về kiểu dáng công nghiệp so với các quy định trước đó. Từ các định nghĩa kiểu dáng công nghiệp được quy định qua từng thời kỳ có thể hiểu rằng: tài sản trí tuệ là kiểu dáng công nghiệp tồn tại song song và luôn gắn 9 với sản phẩm. Trong một số trường hợp, kiểu dáng công nghiệp sẽ được định hình trước thông qua các bản vẽ, bản thiết kế để tạo nên một kiểu dáng công nghiệp; và trong một số trường hợp kiểu dáng công nghiệp là hình ảnh phản chiếu lại sản phẩm.
Vậy các sản phẩm, bộ phận của sản phẩm theo định nghĩa sẽ được hiểu như thế nào? Luật Sở hữu trí tuệ không có định nghĩa chính thức về khái niệm “sản phẩm” nhưng “sản phẩm” được quy định trong Luật có thể hiểu là “đồ vật, dụng cụ, thiết bị, phương tiện, hoặc bộ phận dùng để lắp ráp, hợp thành các sản phẩm đó, được sản xuất bằng phương pháp công nghiệp hoặc thủ công nghiệp, có kết cấu và chức năng rõ ràng, được lưu thông độc lập1”. Với định nghĩa sản phẩm nêu trên, có thể hiểu mọi sản phẩm trong đời sống thường nhật đều có thể là kiểu dáng công nghiệp hoặc chứa đựng các đặc điểm của kiểu dáng công nghiệp. Ví dụ như: kiểu dáng công nghiệp có thể là các đồ dùng gần gũi trong cuộc sống như: cái bàn, cái ghế, cây bút, bóng đèn, chiếc xe máy, bao, túi… hoặc các chi tiết cấu tạo nên các sản phẩm cụ thể như: cái kính chắn gió, kính chiếu hậu, hộp đèn, mặt nạ xe hoặc yên xe… 1. Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với kiểu dáng công nghiệp Về đối tượng bảo hộ Từ định nghĩa kiểu dáng công nghiệp, hiểu rằng mọi sản phẩm hoặc bộ phận để lắp ráp thành sản phẩm phức hợp đều có thể trở thành đối tượng bảo hộ của kiểu dáng công nghiệp.
Trong thực tế, một sản phẩm là đối tượng bảo hộ của kiểu dáng công nghiệp nhưng vẫn có thể không được bảo hộ dưới danh nghĩa kiểu dáng công nghiệp nếu: (i) Hình dáng bên ngoài của sản phẩm do đặc tính kỹ thuật của sản phẩm bắt buộc phải có; (ii) Hình dáng bên ngoài của công trình xây dựng dân dụng hoặc công nghiệp; (iii) Hình dáng của sản phẩm không nhìn thấy được trong quá trình sử dụng.2 Để làm rõ đối tượng nào được và đối tượng nào không được bảo hộ với danh 1 Website Cục Sở hữu trí tuệ, “Kiểu dáng công nghiệp”, https://ipvietnam.vn/vi_VN/web/guest/kieu-dang- cong-nghiep, truy cập ngày 01/11/2023. 2 Xem Điều 64 Luật SHTT. 10 nghĩa kiểu dáng công nghiệp, có thể tham khảo một số ví dụ sau: Ví dụ 1: Bánh xe Về cấu tạo: bánh xe hình tròn, gồm 3 bộ phận cấu tạo thành là: vành bánh xe (12-16), van của lốp xe (12-15) và lốp xe (12-15). Dựa trên tiêu chí loại trừ các đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa kiểu dáng công nghiệp theo Điều 64 Luật SHTT, thấy rằng, bánh xe thuộc đối tượng loại trừ bảo hộ vì đặc tính kỹ thuật hình tròn của bánh xe.
Đặc tính hình tròn là đặc tính chung của mọi loại bánh xe, đặc tính này giúp xe có thể di chuyển dễ dàng, thuận tiện, linh hoạt; hình tròn là tiêu chí tiên quyết để mọi loại bánh xe phát huy tối đa công dụng trong khi sử dụng, vì vậy đặc tính hình tròn là đặc tính kỹ thuật của bánh xe, mọi bánh xe có dạng hình tròn sẽ không được bảo hộ dưới danh nghĩa một kiểu dáng công nghiệp. Thế nhưng, bánh xe có cấu tạo gồm nhiều chi tiết, bao gồm: vành bánh xe, van lốp xe và lốp xe. Mỗi bộ phận cấu thành này mang một đặc tính kỹ thuật riêng, trong trường hợp các đặc tính kỹ thuật của từng bộ phận không thuộc trường hợp loại trừ bảo hộ thì các bộ phận này sẽ được bảo hộ dưới danh nghĩa kiểu dáng công nghiệp. Ví dụ 2: Vành bánh xe.
Vành bánh xe luôn có dạng hình tròn, nhưng phần nan hoa trong mỗi vành bánh xe khác nhau sẽ có hình dạng khác nhau. Tuỳ thuộc vào loại xe, công dụng và tính thẩm mỹ mà các vành bánh xe sẽ có đặc điểm thiết kế riêng như: vành hình hoa, vành hình sao, vành hình xoáy,… 11 Ví dụ 3: Lốp xe Cũng tương tự như vành bánh xe, đặc tính hình tròn là đặc tính bắt buộc của lốp xe để phù hợp với vành xe. Tuy nhiên, về hình dáng bên ngoài, lốp xe có thể mang nhiều hoa văn khác nhau, ví dụ như: hoa văn hình xương cá, hoa văn hình dích dắc, hoa văn hình chữ Y,… Bên cạnh các đối tượng không được bảo hộ được quy định tại Điều 64 Luật SHTT, Khoản 1 Điều 8 Luật SHTT 2005 được sửa đổi bởi khoản 4 Điều 1 Luật sở hữu trí tuệ sửa đổi 2009 quy định về chính sách của nhà nước về sở hữu trí tuệ còn quy định: “Công nhận và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của tổ chức, cá nhân trên cơ sở bảo đảm hài hòa lợi ích của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ với lợi ích công cộng; không bảo hộ các đối tượng sở hữu trí tuệ trái với đạo đức xã hội, trật tự công cộng, có hại cho quốc phòng, an ninh”. Theo quy định này, ngoài các các đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa kiểu dáng công nghiệp, Luật Sở hữu trí tuệ còn giới hạn phạm vi bảo hộ ở các đối tượng sở hữu trí tuệ nếu các đối tượng đó là sản phẩm trái với đạo đức xã hội, trật tự công cộng và có hại cho quốc phòng an ninh.
Các đối tượng bị giới hạn bảo hộ theo quy định này có thể là: máy làm tiền giả, máy đếm tiền giả, bom xăng, bom thư, sản phẩm kích động thù địch, chiến tranh, chia rẽ đoàn kết dân tộc, sản phẩm khiêu dâm, các sản phẩm là biểu tượng của các quốc gia, cơ quan nhà nước, chính phủ,… 12 Về điều kiện bảo hộ Một kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ khi thỏa các điều kiện sau: Một, có tính mới (Điều 65 Luật SHTT, điểm 35.