Chương 1: Cơ sở lý luận về quy định xử lý xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu 1. Khái niệm về hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu 1. Khái niệm về hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu Xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu là việc sử dụng, chiếm đoạt nhãn hiệu trong phạm vi và thời hạn bảo hộ mà không được sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu, trừ các trường hợp pháp luật quy định không bị coi là hành vi xâm phạm QSHCN đối với nhãn hiệu. Các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nói chung và QSHCN đối với nhãn hiệu nói riêng không chỉ gây tổn hại cho chủ thể quyền đối với đối tượng sở hữu trí tuệ bị xâm phạm, mà còn có thể gây thiệt hại đến lợi ích của người thứ ba - người tiêu dùng trong xã hội và có thể nói là gây tổn hại cho lợi ích xã hội.
Ví dụ: việc xâm phạm quyền đối với một nhãn hiệu hàng hóa thì hành vi xâm phạm quyền đó không chỉ gây tổn hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu bị xâm phạm (giảm thị phần, giảm lợi nhuận, làm suy giảm lòng tin của khách hàng vào sản phẩm mang nhãn hiệu đó,…) mà còn gây thiệt hại cho người tiêu dùng khi mua phải hàng giả, hàng nhái nhãn hiệu hàng hóa đó (như chất lượng không được như hàng thật nhưng phải trả tiền với giá trị tương đương hàng thật, đôi khi còn gây tổn hại đến sức khỏe, tính mạng nếu hàng giả, hàng nhái đó liên quan đến thực phẩm hoặc dược phẩm đó,…). Hành vi được xem là xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu ❖ Hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu thông thường: Theo Điều 129 Luật Sở hữu trí tuệ, các hành vi sau đây được thực hiện mà không được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu thì bị coi là xâm phạm quyền sở hữu đối với nhãn hiệu: 6 - Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ trùng với hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục đăng kí kèm theo nhãn hiệu đó. Đây là trường hợp dễ xác định nhất trong số các hành vi xâm phạm nhãn hiệu. Ví dụ: nhãn hiệu Number one được bảo hộ cho sản phẩm là nước tăng lực.
Một doanh nghiệp sản xuất nước tăng lực khác dán nhãn hiệu Number one lên sản phẩm của mình. Đây chính là hành vi “sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ trùng với hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục đăng kí kèm theo nhãn hiệu đó”. Trường hợp này theo Khoản 5, Điều 11, Nghị định 105/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ thì bị coi là giả mạo nhãn hiệu (Điều 213, Luật Sở hữu trí tuệ). - Sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hoá, dịch vụ tương tự hoặc liên quan tới hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục đăng kí kèm theo nhãn hiệu đó hoặc nếu việc sử dụng như vậy có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc của hàng hóa, dịch vụ.
Vẫn ví dụ về nhãn hiệu Number one được bảo hộ cho sản phẩm nước tăng lực. Một doanh nghiệp sản xuất nước uống đóng chai dán nhãn hiệu Number one lên bao bì. Trong trường hợp này, nhãn hiệu được sử dụng được xác định là trùng với nhãn hiệu được bảo hộ. Hàng hóa, dịch vụ mang dấu hiệu bị nghi ngờ xâm phạm không phải là hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục đăng kí kèm theo nhãn hiệu bị xâm hại mà là hàng hóa, dịch vụ tương tự hoặc liên quan (nước tăng lực và nước uống đóng chai được coi là hai hàng hóa tương tự nhau do thường được bày bán trên cùng một khu vực trong siêu thị hoặc cửa hàng kinh doanh có mục đích sử dụng tương tự nhau), việc sử dụng như vậy có khả năng khiến người tiêu dùng nhầm lẫn hai loại hàng hóa này do cùng một cơ sở sản xuất cung cấp.
Như vậy, ở đây cần phải xác định hai yếu tố, thứ nhất là sự tương tự hoặc liên quan của hàng hóa, dịch vụ; thứ hai là khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ. 7 - Sử dụng dấu hiệu tương tự với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ trùng với hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục đăng kí kèm theo nhãn hiệu đó, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ. Với trường hợp nhãn hiệu Trung Thành đang được bảo hộ cho nhãn hiệu nước mắm. Việc một người khác sử dụng dấu hiệu Trung Thanh để dán lên chai, can, thùng đụng nước mắm khi đưa hàng hóa của mình vào lưu thông trên thị trường là đã sử dụng dấu hiệu tương tự với nhãn hiệu đang được bảo hộ cho hàng hóa trùng với hàng hóa thuộc danh mục đăng kí kèm theo nhãn hiệu đó.
Một ví dụ khác: Chủ nhãn hiệu OMO cho rằng nhãn hiệu TOMOT tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của mình yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kết luận hành vi xâm phạm quyền. Trên thực tế, nhãn hiệu OMO khi sử dụng được đặt trên nền màu đỏ, chữ màu đen. Sản phẩm mang nhãn hiệu này đã được chủ nhãn hiệu sử dụng và quảng cáo với tần xuất cao bằng nhiều hình thức trong đó có trên sóng truyền hình. Ấn tượng thương mại mà nhãn hiệu OMO tạo ra cho người tiêu dùng rất rõ với phần nền màu đỏ, chữ màu đen.
Nhãn hiệu TOMOT có phần chữ TOMOT được bảo hộ có cách trình bày tương tự với nhãn hiệu OMO, tạo ra ấn tượng thương mại tương tự. Chính sự tương tự trong ấn tượng thương mại này đã khiến cho người tiêu dùng bị nhầm lẫn mặc dù phần nhãn hiệu đều đã đươc bảo hộ riêng cho các bên liên quan. ❖ Hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu nổi tiếng: Nhãn hiệu nổi tiếng được tự động bảo hộ không cần thực hiện thủ tục đăng kí, do vậy, trong nhiều trường hợp (khi nhãn hiệu nổi tiếng không đăng kí nhãn hiệu thông thường) sẽ không có văn bản bảo hộ để đối chiếu nhằm xác định phạm vi bảo hộ. Hơn nữa, phạm vi bảo hộ của nhãn hiệu nổi tiếng vượt qua ngoài phạm vi các sản phẩm, dịch vụ trùng, tương tự hoặc có liên quan.
Theo quy định Điểm d Khoản 1 Điều 129 Luật Sở hữu trí tuệ thì các hành vi sau đây bị coi là xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu nổi tiếng: “Sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu nổi tiếng hoặc dấu hiệu dưới dạng dịch nghĩa, phiên âm từ nhãn hiệu nổi tiếng cho hàng hóa, dịch 8 vụ bất kì, kể cả hàng hóa, dịch vụ không trùng, không tương tự và không liên quan tới hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng, nếu việc sử dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa hoặc gây ấn tượng sai lệch về mối quan hệ giữa người sử dụng dấu hiệu đó với chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng”. Như vậy, có thể thấy một số hành vi mà đối với nhãn hiệu bình thường sẽ không bị coi là xâm phạm quyền nhưng đối với nhãn hiệu nổi tiếng lại bị coi là xâm phạm quyền. Tóm tắt các tình huống bị coi là xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu thông thường và nhãn hiệu nổi tiếng Hệ quả Tình huống Nhãn hiệu thông Nhãn hiệu nổi tiếng thường Sử dụng nhãn hiệu trùng Xâm phạm Xâm phạm cho hàng hóa, dịch vụ Sử dụng nhãn hiệu trùng Xâm phạm nếu việc sử Xâm phạm nếu việc sử cho hàng hóa/ dịch vụ dụng có khả năng gây dụng có khả năng gây tương tự hoặc liên quan nhầm lẫn về nguồn gốc nhầm lẫn nguồn gốc hàng hàng hóa, dịch vụ hóa hoặc gây ấn tượng sai lệch về mối quan hệ giữa người sử dụng nhãn hiệu đó với chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng Sử dụng nhãn hiệu tương Xâm phạm nếu việc sử Xâm phạm nếu việc sử tự cho hàng hóa, dịch vụ dụng có khả năng gây dụng có khả năng gây nhầm lẫn về nguồn gốc nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ hàng hóa hoặc gây ấn 9 tượng sai lệch về mối quan hệ giữa người sử dụng nhãn hiệu đó với chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng Sử dụng nhãn hiệu trùng/ Xâm phạm nếu việc sử Xâm phạm nếu việc sử tương tự cho hàng hóa/ dụng có khả năng gây dụng có khả năng gây dịch vụ không tương tự nhầm lẫn về nguồn gốc nhầm lẫn về nguồn gốc hoặc không liên quan hàng hóa, dịch vụ hàng hóa hoặc gây ấn tượng sai lệch về mối quan hệ giữa người sử dụng nhãn hiệu đó với chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng 1. Pháp luật Việt Nam hiện hành về xử lý xâm phạm sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu 1.
Pháp luật về xử lý hành chính trong sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu 1. Các hành vi vi phạm, hình thức và mức phạt ❖ Các hành vi vi phạm Theo quy định tại Khoản 1, Điều 211, Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) thì các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nói chung và QSHCN đối với nhãn hiệu nói riêng sau đây sẽ bị xử phạt hành chính: + Xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây thiệt hại cho tác giả, chủ sở hữu, người tiêu dùng hoặc cho xã hội; + Sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, buôn bán, tang trữ tem, nhãn hoặc vật phẩm khác mang nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý giả mạo hoặc giao cho người khác thực hiện hành vi này. 10 ❖ Hình thức xử lý hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu: Các hình thức xử lý hành chính được quy định tại Điều 214, Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) và Điều 3, Nghị định số 97/2010/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp. Cụ thể là: - Hình thức xử phạt chính: + Cảnh cáo; + Phạt tiền.
- Hình thức xử phạt bổ sung: Tuỳ theo tính chất,mức độ xâm phạm,tổ chức,cá nhân xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ còn có thể bị áp dụng một hoặc các hình thức xử phạt bổ sung sau đây: + Tịch thu hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ, nguyên liệu, vật liệu, phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ; + Đình chỉ có thời hạn hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực đã xảy ra vi phạm.