Khóa luận: Bảo hộ chồng lấn giữa nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp

Khóa luận tốt nghiệp luật học phân tích thực trạng bảo hộ chồng lấn giữa nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp, đề xuất giải pháp hoàn thiện.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2025

79
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan bảo hộ chồng lấn giữa nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp

Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp giữ vai trò then chốt trong nền kinh tế thị trường. Nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp là hai đối tượng sở hữu công nghiệp phổ biến. Nhãn hiệu bảo vệ dấu hiệu nhận biết nguồn gốc thương mại của hàng hóa và dịch vụ. Kiểu dáng công nghiệp bảo hộ hình dáng bên ngoài của sản phẩm qua các đường nét, hình khối, màu sắc. Pháp luật sở hữu trí tuệ quy định tiêu chuẩn riêng cho từng đối tượng. Tuy nhiên, sự phát triển của thiết kế bao bì và sản phẩm tạo ra nhiều điểm giao thoa. Một thiết kế bao bì đặc thù có thể thỏa mãn cả tính mới của kiểu dáng công nghiệp lẫn khả năng phân biệt của nhãn hiệu. Khi đó, hiện tượng chồng lấn quyền xuất hiện trên thực tế. Chủ đơn có thể nộp đơn theo một hoặc cả hai cơ chế. Khóa luận nghiên cứu chuyên sâu các cơ sở lý luận về mối quan hệ giao thoa này. Việc làm rõ khái niệm giúp định hình khung pháp lý hoàn chỉnh cho công tác quản lý và xác lập quyền.

1.1. Khái niệm và đặc trưng cơ bản của bảo hộ chồng lấn

Bảo hộ chồng lấn là trạng thái pháp lý khi một đối tượng sáng tạo cùng lúc thỏa mãn các điều kiện bảo hộ của hai cơ chế sở hữu công nghiệp. Sự giao thoa này diễn ra mạnh mẽ giữa nhãn hiệu hình ba chiều và kiểu dáng công nghiệp. Đặc trưng lớn nhất của hiện tượng là tính đa diện về mặt chức năng. Một hình dáng sản phẩm vừa tạo giá trị thẩm mỹ, vừa đóng vai trò chỉ dẫn nguồn gốc thương mại. Sự trùng khớp về đối tượng vật chất tạo ra các quyền năng song song. Quyền nhãn hiệu có thể gia hạn liên tục vô thời hạn. Ngược lại, quyền kiểu dáng công nghiệp bị giới hạn tối đa mười lăm năm. Sự chênh lệch này mở ra nhiều tranh cãi trong thực tiễn áp dụng pháp luật.

1.2. Các dạng biểu hiện của hiện tượng chồng lấn quyền

Hiện tượng chồng lấn quyền thường xuất hiện dưới hai dạng thức chủ yếu trong thực tiễn xác lập quyền. Dạng thức thứ nhất là chồng lấn đồng thời khi chủ thể đăng ký cùng lúc cả hai văn bằng cho một mẫu thiết kế. Điều này mang lại phạm vi bảo vệ kép nhưng dễ dẫn đến tình trạng độc quyền quá mức. Dạng thức thứ hai là chồng lấn tiếp nối thời gian. Khi bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp hết hạn mười lăm năm, chủ thể tiếp tục nộp đơn đăng ký nhãn hiệu ba chiều. Hành vi này nhằm duy trì sự bảo hộ vĩnh viễn đối với hình dáng sản phẩm. Cả hai dạng thức đều tác động trực tiếp đến quyền tự do kinh doanh của các đối thủ cạnh tranh trên thị trường.

II. Vấn đề bảo hộ chồng lấn giữa nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp

Thực tiễn áp dụng pháp luật sở hữu trí tuệ tại Việt Nam bộc lộ nhiều xung đột khi giải quyết vấn đề chồng lấn. Các cơ quan quản lý gặp lúng túng trong việc xác định ranh giới bảo hộ giữa nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp. Nguyên nhân xuất phát từ sự thiếu đồng bộ giữa các tiêu chí thẩm định nội dung đơn đăng ký. Nhãn hiệu đòi hỏi khả năng phân biệt nguồn gốc, trong khi kiểu dáng công nghiệp tập trung vào tính mới và tính sáng tạo. Khi một chủ thể đăng ký kiểu dáng sản phẩm trùng với nhãn hiệu đã được bảo hộ trước đó của người khác, tranh chấp quyền phát sinh. Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành quy định nguyên tắc tôn trọng quyền có trước. Tuy nhiên, việc áp dụng nguyên tắc này gặp trở ngại do thiếu cơ sở dữ liệu tra cứu liên thông giữa hai đối tượng. Hệ thống phân loại hàng hóa của nhãn hiệu và bảng phân loại quốc tế Locarno của kiểu dáng công nghiệp không tương thích hoàn toàn. Điều đó dẫn đến tình trạng cấp văn bằng trùng lặp hoặc xung đột lợi ích giữa các bên liên quan.

2.1. Xung đột giữa quyền có trước và quyền xác lập sau

Xung đột quyền nảy sinh khi văn bằng kiểu dáng công nghiệp cấp sau xâm phạm dấu hiệu nhãn hiệu đã được bảo hộ trước đó. Chủ sở hữu nhãn hiệu có quyền ngăn cấm hành vi sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn. Ngược lại, chủ văn bằng kiểu dáng công nghiệp lại sở hữu quyền khai thác thương mại độc quyền theo quyết định hành chính. Sự mâu thuẫn giữa hai văn bằng hợp pháp gây khó khăn cho các cơ quan thực thi như Tòa án hay Thanh tra Khoa học Công nghệ. Việc hủy bỏ hiệu lực văn bằng đòi hỏi quy trình phức tạp và thời gian kéo dài. Doanh nghiệp chịu tổn thất lớn về chi phí pháp lý và uy tín thương mại trong suốt quá trình giải quyết tranh chấp.

2.2. Bất cập trong quy trình thẩm định và đối so sánh đơn

Quy trình thẩm định đơn sở hữu công nghiệp hiện còn nhiều hạn chế kỹ thuật. Thẩm định viên nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp làm việc tại các bộ phận độc lập thuộc Cục Sở hữu trí tuệ. Việc tra cứu đối chứng chéo giữa hai kho dữ liệu chưa được tự động hóa triệt để. Một kiểu dáng đăng ký mới khó bị phát hiện nếu dấu hiệu đó đã tồn tại dưới dạng nhãn hiệu ba chiều chưa phổ biến rộng rãi. Bên cạnh đó, các tiêu chí đánh giá khả năng gây nhầm lẫn còn thiếu tính định lượng. Sự khác biệt về quan điểm đánh giá giữa các thẩm định viên làm tăng nguy cơ cấp trùng quyền. Bất cập này trực tiếp tạo ra nguy cơ xung đột lợi ích ngay từ khâu thẩm định ban đầu.

III. Giải pháp bảo hộ chồng lấn giữa nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp

Để xử lý triệt để hiện tượng chồng lấn quyền, việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và quy trình kỹ thuật mang tính cấp bách. Trước hết, Luật Sở hữu trí tuệ cần bổ sung các tiêu chí cụ thể nhằm phân định rõ phạm vi bảo hộ giữa nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp. Học thuyết về tính chức năng cần được áp dụng chặt chẽ trong thẩm định nhãn hiệu ba chiều. Khi hình dáng sản phẩm chỉ mang tính kỹ thuật hoặc chức năng thuần túy, cơ quan quản lý phải từ chối đăng ký nhãn hiệu. Điều này ngăn chặn hành vi lợi dụng cơ chế bảo hộ nhãn hiệu để duy trì độc quyền vĩnh viễn cho kiểu dáng sản phẩm đã hết hạn bảo hộ. Đồng thời, Cục Sở hữu trí tuệ cần xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu số hóa liên thông. Hệ thống này cho phép tự động đối soát thông tin giữa kho dữ liệu nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp. Ngoài ra, việc ban hành các hướng dẫn thẩm định chi tiết sẽ hỗ trợ thẩm định viên đưa ra quyết định chuẩn xác, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống bảo hộ.

3.1. Hoàn thiện các quy định pháp luật sở hữu trí tuệ

Việc sửa đổi văn bản pháp luật cần tập trung vào việc làm rõ nguyên tắc giải quyết xung đột quyền. Cần quy định rõ cơ chế ưu tiên quyền có trước và nguyên tắc cân bằng lợi ích công cộng. Cơ quan lập pháp cần bổ sung điều khoản từ chối cấp nhãn hiệu đối với các hình dáng đã thuộc về kiểu dáng công nghiệp công cộng. Thời hạn bảo hộ kiểu dáng công nghiệp sau khi kết thúc phải thuộc về tài sản chung của xã hội. Quy định này bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh cho mọi doanh nghiệp. Ngoài ra, cần thiết lập quy trình rút gọn để giải quyết các khiếu nại về cấp trùng văn bằng hoặc xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.

3.2. Nâng cấp công nghệ và kỹ thuật nghiệp vụ thẩm định

Hiện đại hóa hệ thống thẩm định là bước đột phá để hạn chế tình trạng cấp trùng văn bằng. Cục Sở hữu trí tuệ cần triển khai công nghệ trí tuệ nhân tạo để tự động quét và đối chiếu hình ảnh. Công cụ này giúp phát hiện các điểm tương tự giữa nhãn hiệu hình học và kiểu dáng công nghiệp nộp sau. Bên cạnh đó, việc xây dựng bảng đối chiếu giữa phân loại Locarno và phân loại Nice là cần thiết. Bảng đối chiếu này hỗ trợ thẩm định viên tra cứu danh mục hàng hóa liên quan nhanh chóng. Đào tạo chuyên môn liên ngành cho đội ngũ thẩm định viên cũng cần được chú trọng. Năng lực nghiệp vụ vững vàng giúp xác định chính xác tính tương tự và nguy cơ gây nhầm lẫn.

IV. Đánh giá bảo hộ chồng lấn giữa nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp

Nghiên cứu về bảo hộ chồng lấn giữa nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Về mặt lý luận, khóa luận góp phần làm sáng tỏ bản chất của các đối tượng quyền sở hữu công nghiệp. Sự phân định ranh giới bảo hộ giúp củng cố nguyên tắc cân bằng lợi ích trong luật học. Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học để hoàn thiện hệ thống văn bản pháp lý. Các giải pháp đề xuất trực tiếp hỗ trợ cơ quan quản lý nâng cao chất lượng thẩm định và xét nghiệm đơn. Đối với cộng đồng doanh nghiệp, việc nhận thức đúng đắn hiện tượng chồng lấn quyền giúp xây dựng chiến lược quản trị tài sản trí tuệ an toàn. Doanh nghiệp chủ động phòng ngừa rủi ro tranh chấp và bảo vệ thương hiệu bền vững. Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên luật, luật sư và các nhà hoạch định chính sách tại Việt Nam.

4.1. Đóng góp học thuật của khóa luận tốt nghiệp luật học

Khóa luận tốt nghiệp hệ thống hóa toàn diện các căn cứ khoa học về hiện tượng chồng lấn quyền sở hữu công nghiệp. Công trình làm rõ mối tương quan giữa chức năng phân biệt thương mại và chức năng thẩm mỹ kiểu dáng. Tác giả phân tích thấu đáo các xung đột phát sinh từ thực tiễn đăng ký và xét xử tại Việt Nam. Khóa luận chỉ ra các khoảng trống pháp lý cần điều chỉnh để bảo đảm tính minh bạch. Những luận điểm khoa học trong đề tài bổ sung nguồn tư liệu quý giá cho nghiên cứu luật sở hữu trí tuệ chuyên sâu. Đây là nền tảng quan trọng phục vụ công tác giảng dạy và hoàn thiện chính sách pháp luật quốc gia.

4.2. Khuyến nghị thực tiễn bảo hộ cho doanh nghiệp

Doanh nghiệp cần chủ động xây dựng chiến lược bảo hộ tài sản trí tuệ đồng bộ ngay từ giai đoạn thiết kế sản phẩm. Trước khi tung sản phẩm ra thị trường, bộ phận pháp chế cần tra cứu kỹ lưỡng cả hai kho dữ liệu nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp. Việc nộp đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp sớm bảo đảm quyền độc quyền hình dáng bên ngoài. Song song đó, doanh nghiệp nên kết hợp đăng ký nhãn hiệu ba chiều khi thiết kế đã đạt được khả năng phân biệt thương hiệu. Việc theo dõi thời hạn hiệu lực của văn bằng giúp doanh nghiệp kịp thời gia hạn hoặc điều chỉnh kế hoạch kinh doanh. Chiến lược kết hợp linh hoạt này bảo vệ tối đa lợi ích thương mại và ngăn ngừa tranh chấp bất lợi.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/06/2026
Khóa luận tốt nghiệp luật học bảo hộ chồng lấn giữa nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VE BAO HO CHONG LẦN GIỮA NHAN HIỆU VA KIEU DANG CONG NGHIEP 1. Khái quát về nhãn hiệu va cơ chế bao hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu 1. Khái niệm về nhãn hiệu Nhãn hiệu đã có một thời kỳ tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử. Những ý niệm đầu tiên về nhãn hiệu đã manh nha xuất hiện từ thời kì cổ đại!.

Nhãn hiệu thud sơ khai tồn tại dưới thuật ngữ “brand”, có nguồn gốc tir vùng Scandinavian cổ (nay gồm Đan Mạch, Na Uy, Thụy Điền, Iceland, Phần Lan), với ý nghĩa là đốt cháy (to-burn).2 Sở di có tên gọi nay bởi những người chăn nuôi thời bấy gid thường dùng cách thức đốt nhúm lông hoặc da của gia súc dé làm dau hiệu nhận biết riêng, nhằm phân biệt với gia súc của người khác, với mong muốn người mua sẽ nhận ra gia súc chất lượng tốt của mình để lần mua sau họ sẽ quay lại hoặc giới thiệu những người mua mới.3 Với mục đích như vậy, về sau, phương pháp này cũng được các nhà sản xuất gém, gia thú, chế tác kim loại và tơ lụa sử đụng để phân biệt các sản phâm của họ với các sản phâm cùng loại của nhà sản xuất khác. Cách đây khoảng 3000 năm, các thợ thủ công Ấn Độ đã khắc chữ ký của mình lên các tác phẩm trước khi đem hàng đi bán tại Iran*. Các nhà sản xuất đỗ gốm tại Trung Quốc cũng đã bán hàng hóa có gắn nhãn hiệu sang tận Dia Trung Hải từ hơn 2000 năm về trước. Ngày nay, cùng với sự phát triển của hoạt động giao thương trên toàn cầu, nhãn hiệu dần khăng định được vai trò quan trọng của mình.

Xu hướng này được xuất phát từ việc nhiều Tigười cùng sản xuất ra một mặt hàng dẫn đến sự cạnh tranh giữa các nhà sản xuất và thương nhân với nhau. Cụ thé hơn, đối với người tiêu dùng, đối với các hàng hóa cùng loại, không có sự khác biệt về chất lượng, giá trị hay hình thức bên ngoài thì sẽ rất khó khăn dé lựa chọn được các mặt hàng họ yêu thích, hay nói cách khác, họ cần những dấu hiệu riêng biệt để nhận ra sản phẩm cùng loại của các nhà sản xuất khác nhau. Đối với bản thân nhà sản xuất hay đoanh nghiệp, khi có sự cạnh tranh về hàng hóa cùng loại với nhau, họ mong muôn khách hàng sẽ quay trở lại mua sản phâm của mình thì T WIPO (2004), WIPO Intellectual Property Handbook: Policy Law and use, pp. ? Industrial Property Right — Standard Textbook, pp3.

3 Industrial Property Right — Standard Textbook, pp3. 4 WIPO, Trademarks module of the General Course on Intellectual Property. 6 nhu cầu cá biệt hóa sản phẩm của mình là tất yếu. Từ đó, hàng hóa được sản xuất ra đều được đặt tên riêng và phương tiện đặt tên cho các hàng hóa trên thị trường này chính là nhãn hiệu.

Thuật ngữ “brand” dùng cho nhãn hiệu từ ban đầu cho đến thế kỷ XIX đã được định nghĩa trong Từ điển Oxford, với cách hiểu là tống hòa các thông tin về một sản phẩm, dịch vụ của nhà sản xuất, được người tiêu dùng tiếp cận dưới đấu hiệu tên gọi hoặc các dau hiệu nhận biết khác như logo, hình tượng.5 Ngày nay, trong khoa học pháp lý, thuật ngữ, “trademark” dùng dé chỉ một nhãn hiệu đã được bảo hộ không còn đơn thuần là “brand” nữa. Từ “brand” chỉ còn được dùng cho các nhãn hiệu nổi tiếng, có chỗ đứng trong thị trường.5 Cùng với hệ quả từ sự phát triển của thương mại quốc tế, trong thương mại hiện đại, nhãn hiệu đã mở rộng sang các ngành dịch vụ, thay vì chỉ được hiểu theo nghĩa hẹp là nhãn hiệu hàng hóa nhằm phân biệt hàng hóa, ngày nay, nhãn hiệu còn dùng để phân biệt dịch vụ của doanh nghiệp này với dịch vụ của doanh nghiệp khác, với những dấu hiệu nhận biết đặc trưng, gọi là nhãn hiệu địch vụ. Trên thực tế, pháp luật quốc tế và các quốc gia khác nhau có sự tương đồng nhất định về khái niệm nhãn hiệu. Theo Luật mẫu của Tổ chức SHTT thế giới về Nhãn hiệu, Tên thương mại và Cạnh tranh không lành mạnh năm 1976 thì “m6t nhãn hiệu hàng hóa là bắt kì dấu hiệu nào có khả năng phân biệt hàng hóa của doanh nghiệp này với hàng hóa của các đối thủ cạnh tranh.

”” Với định nghĩa này, mọi dau hiệu có khả nang phân biệt đều có thể dùng làm nhãn hiệu, các quốc gia tùy tình hình thực tế mà quy định các dâu hiệu loại trừ không được bảo hộ là nhãn hiệu. Hiện nay, khi tra cứu về nhãn hiệu trên trang web cua WIPO, giải thích về nhãn hiệu được đưa ra như sau: “Nhấn hiệu là dau hiệu để phán biệt hàng hóa, dich vụ của doanh nghiệp này với hàng hóa, dich vụ của doanh nghiệp khác. Nhãn hiệu được bảo hộ bởi quyền SHTT 'Š. Cách giải thích này đã bao hàm cả nhãn hiệu hang hóa và nhãn hiệu dich vụ, trong đồng với nhiều điều ước quốc tế và pháp luật của nhiều quốc gia hiện nay.

Dẫu vậy phải mãi đến Hiệp định về các khía cạnh thương mại liên quan đến quyền SHTT (Hiệp định TRIPs) có hiệu lực từ khi thành lập WTO ngày 01/01/1995, khái niệm về nhãn hiệu mới được quy định một 5 WIPO (2004), WIPO Intellectual Property Handbook: Policy Law and use, pp. ® Trần Anh Ngoc (2018), Pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu âm thành và mùi — Kinh nghiệm thé giới và khuyến nghị cho Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Dai học Luật Ha Nội, tr. 7 Cẩm nang SHTT của Tổ chức SHTT thé giới WIPO, Ban dich của Cục SHTT năm 2005, tr. 8 Xem tại: https://www.int/trademarks/en, truy cập ngày 15/03/2025.

7 cách rõ ràng và cho đến nay khái niệm nay vẫn được cho là khái niệm khái quát, toàn diện nhất về nhãn hiệu. Cụ thể, khoản 1 Điều 15b Hiệp định TRIPs có quy định: “Bat kỳ một dau hiệu, hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào, có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hóa hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác, đều có thể là nhãn hiệu. Các dấu hiệu do, đặc biệt la các từ, kế cả tên riêng, chữ cải, chữ số, các yếu tô hình họa và tổ hợp màu sắc cũng như tổ hop bat kỳ của các dau hiệu đó, phải có khả năng được đăng kỷ là nhãn hiệu. Trường hợp bản thân các dấu hiệu không có khả năng phan biệt hàng hóa, dich vu tương ứng, các thành viên có thé quy định rằng khả năng đăng ký phụ thuộc vào tính phân biệt đạt được xác định thông qua quá trình sử dụng.

Các thành viên có thé quy định rằng diéu kiện dé được đăng ký là các dấu hiệu phải là dấu hiéu nhìn thấy được ”. Tại Hoa Ky, Đạo luật Lanham về nhãn hiệu định nghĩa: “Nhãn hiệu hàng hóa bao gém từ ngữ, tên, biểu tượng, hình vẽ hoặc sự kết hợp của những yếu tô đó nhằm phân biệt hàng hóa của một người cung cap với hang hóa của những người cung cấp khác. Nhãn hiệu hàng hóa có thé được áp dụng cho hàng hóa, dịch vụ và những nhãn hiệu xác nhận nguồn sốc, chất lượng, độ nguyên chất nếu ching thỏa mãn các yêu cầu của một nhãn hiệu (certification mark)”. Tại Liên Minh Châu Âu, khái niệm về nhãn hiệu có nội dung như sau: “Mét nhãn hiệu thương mại EU có thé bao gom bat kỳ dấu hiệu nào, đặc biệt là các từ, bao gồm cả tên cả nhân hoặc thiết kế, chữ cái, chữ số, màu sắc, hình dạng của hàng hóa hoặc bao bì của hàng hóa hoặc âm thanh, miễn là các dấu hiệu đó có khả năng: a) Phân biệt hàng hóa, dịch vụ của một chu thể kinh doanh này với chủ thể kinh doanh khác; b) Được đại điện trên Số đăng kỷ nhãn hiệu của Liên mình Châu Au, theo cách cho phép các cơ quan có thâm quyén và công chúng xác định đối tượng rõ ràng và chính xác việc bảo vệ quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu đó.

” Có thé thay định nghĩa về nhãn hiệu tại Liên minh châu Âu rộng hơn định nghĩa của Hoa Kỳ, khi đưa ra khái nệm về nhãn hiệu bao gồm không chi các dau hiệu thông thường mà còn bao gồm cả hinh dang của hàng hóa, bao bì đóng gói. Tại Việt Nam, khái niệm nhãn hiệu mới xuất hiện từ khoảng hơn 40 năm trở lại đây, với việc mớ cửa nền kinh tế, tăng tốc cạnh tranh và nhất là với sự xâm nhập của các hàng hóa nước ngoài. Sự hình thành của pháp luật sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu ở nước ta được đánh dấu bằng việc Hội đồng Bộ Trưởng (nay là Chính phủ) ban hành 8 Điều lệ về nhãn hiệu hàng hóa, ban hành kèm theo Nghị định 197/HĐBT ngày 14 tháng 12 năm 1982 của Hội đồng Bộ trưởng. Đây là văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên ở nước ta quy định chi tiết về bảo hộ nhãn hiệu.

Theo đó, tại Khoản 1 Điều 3 Nghị định 197/HĐBT quy định: “nhãn hiệu hàng hóa được bảo hộ pháp lý là những dấu hiệu được chấp nhận có thể là từ ngữ, hình ảnh, hình vẽ, hình nổi. hoặc là sự kết hợp giữa các yếu tổ trên, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc kết hợp”. Tuy nhiên, quy định này chưa thê hiện được chức năng quan trọng nhất của nhãn hiệu là chức năng phân biệt hang hóa, dich vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau, đồng thời thuật ngữ “dau hiệu được chấp nhận” trong khái niệm này không rõ ràng, gây khó hiểu cho các chủ sở hữu nhãn hiệu khi lựa chon các dấu hiệu dé đăng ký nhãn hiệu. Dưới đây ví dụ về 3 nhãn hiệu Táo khuyết, hình con gau 3 chiều (đùng cho kẹo dẻo, kẹo gấu hoặc kẹo chip chip) của Haribo và Google.

Nhãn hiệu của Nhãn hiệu của Apple Inc. Nhãn hiệu của Haribo Google LUC ⁄ > 8EBẼ & Google aa Giấy chứng nhận đăng ky nhãn hiệu số 273466 Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế, sự ra đời của Luật SHTT 2005 và ba lần sửa đổi vào các năm 2009, 2019 và 2022 đã đánh dau những bước phat triển vượt bậc của pháp Luật SHTT Việt Nam. Qua đó, nhãn hiệu cũng được nhìn nhận một cách đầy đủ và chỉ tiết hơn. Khái niệm nhãn hiệu theo Luật SHTT Việt Nam được dé cập tại Khoản 16 Điều 4 phần giải thích từ ngữ như sau: “Nhdn hiệu là dau hiệu dùng dé phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ