CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRI THỨC TRUYỀN THỐNG VÀ BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ TRI THỨC TRUYỀN THỐNG TẠI VIỆT NAM 1. Tri thức truyền thống 1. Khái niệm tri thức truyền thống Tri thức truyền thống là vấn đề được quan tâm ở mức độ quốc tế nhưng thực tế tới thời điểm hiện tại chưa có lý thuyết chung nào về khái niệm tri thức truyền thống. Trong những năm qua, các tổ chức quốc tế đã thực hiện nhiều hoạt động có lợi về bảo vệ tri thức truyền thống, những hoạt động này sẽ thúc đẩy việc bảo vệ tri thức truyền thống trên thế giới.
Chẳng hạn như Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (United Nations Educational Scientific and Cultural Organization - UNESCO), Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (United Nations Environment Programme - UNEP), Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (Food and Agriculture Organization of the United Nations - UNFAO), Công ước về Đa dạng sinh học (Convention on Biological Diversity - CBD), Thế giới Các tổ chức quốc tế như Tổ chức sở hữu trí tuệ Thế giới (World Intellectual Property Organization - WIPO) đã tiến hành các nghiên cứu sâu và rộng về việc bảo vệ tri thức truyền thống. Kết quả điển hình là Ủy ban liên chính phủ về sở hữu trí tuệ và tài nguyên di truyền, tri thức truyền thống và văn hóa dân gian do WIPO thành lập năm 2000 như một diễn đàn quốc gia để thảo luận về việc bảo vệ tri thức truyền thống và đã tiến hành các hoạt động liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ tại Nam Phi, Việt Nam, Tunisia, Ecuador, Thái Lan, Australia, Jamaica, Brazil và các quốc gia khác3. Thuật ngữ tri thức truyền thống được sử dụng sớm nhất trong Công ước về Đa dạng sinh học 1992 (Việt Nam tham gia ký kết ngày 16 tháng 11 năm 1994) đã công nhận sự phụ thuộc truyền thống và chặt chẽ, hiện thân của kiểu sống cổ truyền của 3 Jeanne Holden (2006), Tlđd, tr. 11 các cộng đồng bản địa và địa phương vào tài nguyên sinh học 4.
Bên cạnh đó, công nhận mong ước chia sẻ công bằng lợi ích có được nhờ sử dụng kiến thức cổ truyền, các sáng kiến và thực tiễn phù hợp với bảo đảm đa dạng sinh học và sử dụng lâu bền các bộ phận hợp thành của nó. Nhưng tại thời điểm đó, nó chỉ là một cuộc thảo luận sơ bộ về việc bảo vệ tri thức truyền thống từ quan điểm của đa dạng sinh học. Tuy nhiên, nó đã làm dấy lên mối quan tâm rộng rãi về tri thức truyền thống trong cộng đồng quốc tế. Việc bảo vệ tri thức truyền thống đã được thảo luận sôi nổi trên các góc độ toàn cầu hóa, môi trường và phát triển kinh tế, xã hội.
Tiếp đó, trong Báo cáo về các cuộc khảo sát về sở hữu trí tuệ và tri thức truyền thống (1998-1999), WIPO đã định nghĩa tri thức truyền thống là các sản phẩm văn học, nghệ thuật hoặc khoa học dựa trên truyền thống; sự biểu diễn; các sáng chế; các phát minh khoa học; các kiểu dáng; các nhãn hiệu, tên và biểu tượng; các thông tin bí mật; và tất cả các sáng kiến hoặc sản phẩm sáng tạo khác là thành quả của hoạt động trí tuệ dựa trên truyền thống trong các lĩnh vực công nghiệp, khoa học, văn học hoặc nghệ thuật5. Cách giải thích này tương đối bao quát và được nhiều tác giả đưa vào đề tài nghiên cứu, tuy nhiên định nghĩa này chưa được thống nhất thừa nhận. Cùng quan điểm với định nghĩa trên, nghiên cứu của một số học giả là Stephen A. Hansen và Justin W.
VanFleet cũng đã đưa nhận định súc tích hơn: "tri thức truyền thống là thông tin mà mọi người trong một cộng đồng nhất định, dựa trên kinh nghiệm và sự thích nghi với văn hóa và môi trường địa phương, đã phát triển theo thời gian và tiếp tục phát triển. Kiến thức này được sử dụng để duy trì cộng đồng và nền văn hóa của cộng đồng và duy trì các nguồn gen cần thiết cho sự tồn tại liên tục của cộng đồng. 4 Inkeri Markkula, Minna T. Turunen and Sini Kantola (2019), “Traditional and local knowledge in land use planning: insights into the use of the Akwé: Kon Guidelines in Eanodat, Finnish Sápmi”, Ecology and Society Vol.
5 WIPO (2001), Intellectual Property: Policy, Law and Use, Geneva. Hansen and Justin W. VanFleet (2003), Traditional Knowledge and Intellectual Property, AAAS, p. 12 Đến thời điểm hiện tại, Cục Quốc tế của WIPO đã đưa ra định nghĩa “tri thức truyền thống” được hiểu là các hệ thống tri thức, bí quyết, kỹ năng, các sản phẩm sáng tạo, sáng kiến và các hình thức thể hiện văn hóa dân gian được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, thường thuộc về hoặc gắn liền với một nhóm người cụ thể hoặc một vùng lãnh thổ cụ thể nơi nhóm người đó sinh sống tạo thành một phần bản sắc văn hóa hoặc tinh thần của nhóm người đó7.
Định nghĩa này đã mở rộng phạm vi của tri thức truyền thống hơn định nghĩa trong Báo cáo của WIPO vào năm 2001. Cụ thể, định nghĩa hiện nay không giới hạn phạm vi trong các sản phẩm văn học, nghệ thuật hoặc khoa học dựa trên truyền thống; sự biểu diễn; các sáng chế; các phát minh khoa học; các kiểu dáng; các nhãn hiệu, tên và biểu tượng; các thông tin bí mật; và tất cả các sáng kiến hoặc sản phẩm sáng tạo khác. Theo đó, tất cả các đối tượng trong cuộc sống chỉ cần phù hợp với những đặc điểm được nêu sẽ được xem là tri thức truyền thống. Tuy nhiên, khi xem xét đến nhận định của WIPO về tri thức truyền thống và định nghĩa của WIPO về quyền sở hữu trí tuệ ta thấy hai định nghĩa gần như giống hệt nhau.
Nhưng cần chú ý rằng các đối tượng được WIPO định nghĩa đề cập đến dựa trên truyền thống. Điều này cho thấy WIPO tin rằng tri thức truyền thống trong định nghĩa có khả năng được bảo hộ thông qua quyền sở hữu trí tuệ, ngay cả những dạng tri thức truyền thống không thể được bảo vệ bởi quyền sở hữu trí tuệ hiện đại. "Dựa trên truyền thống" trong định nghĩa của tri thức truyền thống có nghĩa là những đổi mới và sáng tạo đó thường được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, là vốn có của các cộng đồng hoặc nhóm dân tộc cụ thể và được cải tiến liên tục trong quá trình thay đổi môi trường. Cần phải nói rằng WIPO định nghĩa tri thức truyền thống theo cách liệt kê và có thể thấy nội dung của tri thức truyền thống rất rộng, bao gồm tất cả các Nguyên văn tiếng Anh: "Traditional knowledge (Tri thức truyền thống) is the information that people in a given community, based on experience and adaptation to a local culture and environment, have developed over time, and continue to develop.
This knowledge is used to sustain the community and its culture and to maintain the genetic resources necessary for the continued survival of the community." 7 Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới, Traditional Knowledge, <Traditional Knowledge (wipo.int)>, truy cập ngày 10/12/2020, lúc 12:50. 13 khía cạnh của xã hội loài người, thực phẩm, nhà ở và phương tiện đi lại. Các danh mục cụ thể bao gồm: kiến thức nông nghiệp, kiến thức khoa học, kiến thức kỹ thuật, kiến thức sinh thái, kiến thức y tế (bao gồm các loại thuốc và phương pháp điều trị liên quan), kiến thức về đa dạng sinh học, văn hóa dân gian và nghệ thuật biểu đạt (bao gồm âm nhạc, khiêu vũ, bài hát, thủ công mỹ nghệ, thiết kế, truyền thuyết) và các tác phẩm nghệ thuật và các hình thức khác, các yếu tố ngôn ngữ (chẳng hạn như tên, chỉ dẫn địa lý và biểu tượng), và các tài sản văn hóa di động khác. Không chỉ vậy, định nghĩa của WIPO về kiến thức truyền thống chỉ đơn giản là dựa trên truyền thống hơn là định nghĩa về sở hữu trí tuệ8.
Điều này được giải thích rằng khi WIPO sử dụng thuật ngữ này thì WIPO đã xem xét khả năng sử dụng quyền sở hữu trí tuệ để bảo vệ tri thức truyền thống. Một điểm nữa là bảo hộ tri thức truyền thống của quốc tế hiện nay có sự khác biệt lớn đối với các lĩnh vực khác. Tuy nhiên, lĩnh vực quyền sở hữu trí tuệ đã hình thành khuôn khổ pháp lý tương đối hoàn chỉnh cho nên đa phần người dân cho rằng việc bảo hộ tri thức truyền thống là việc tìm bảo vệ về quyền sở hữu trí tuệ. Chính vì những lý do trên mà bài viết này sẽ áp dụng định nghĩa về tri thức truyền thống do WIPO đưa ra: “Tri thức truyền thống” được hiểu là các hệ thống tri thức, bí quyết, kỹ năng, các sản phẩm sáng tạo, sáng kiến và các hình thức thể hiện văn hóa dân gian được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, thường thuộc về hoặc gắn liền với một nhóm người cụ thể hoặc một vùng lãnh thổ cụ 8 Phân tích các định nghĩa tương ứng của kiến thức truyền thống trong CBD và WIPO, chúng ta có thể thấy rằng định nghĩa của WIPO về kiến thức truyền thống rộng hơn so với kiến thức truyền thống do CBD đưa ra.
Theo định nghĩa của CBD, tri thức truyền thống là những tri thức do các nhóm cộng đồng tạo ra và được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Môi trường sống của nhóm này liên quan chặt chẽ đến thế giới tự nhiên. Có thể nói rằng định nghĩa của CBD chủ yếu đề cập đến kiến thức bản địa và cộng đồng liên quan đến đa dạng sinh học. Một mặt, CBD chỉ nhấn mạnh đến đặc điểm bản địa của tri thức truyền thống, nhưng định nghĩa của WIPO không chỉ giới hạn ở điều này mà nó phá vỡ giới hạn của việc kết nối tri thức truyền thống với người bản địa hoặc cộng đồng truyền thống.
Mặt khác, định nghĩa về CBD liên quan đến kiến thức truyền thống được đưa ra từ quan điểm duy trì đa dạng sinh học, và kiến thức truyền thống được định nghĩa bởi WIPO không chỉ đề cập đến đa dạng sinh học mà còn là đa dạng văn hóa. Bởi lẽ WIPO là một cơ quan chuyên môn của Liên hợp quốc chịu trách nhiệm thúc đẩy sự phát triển của quyền sở hữu trí tuệ trên toàn thế giới nên đối tượng của WIPO bao phủ mọi mặt của cuộc sống. 14 thể nơi nhóm người đó sinh sống tạo thành một phần bản sắc văn hóa hoặc tinh thần của nhóm người đó. Cũng cần phải nhấn mạnh là hiểu biết chung về tri thức truyền thống có nghĩa rộng và hẹp.
Theo nghĩa hẹp, tri thức truyền thống đặt văn hóa dân gian và nghệ thuật song song với tri thức truyền thống, còn theo nghĩa rộng bao gồm văn hóa dân gian và nghệ thuật.