mở đầu cho sự nghiệp Bảo tồn di sản văn hóa dân tộc và sự nghiệp bảo tàng ở nước ta. Ngay sau khi hòa bình được lập lại, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, Đảng và Chính phủ đã tiếp quản các bảo tàng cũ đồng thời cho tiến hành xây dựng một số bảo tàng mới ở trung ương như Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, Bảo tàng Quân đội, và ở địa phương là Bảo tàng Hải Phòng đều được khánh thành năm 1959. Tiếp đó là Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh khánh thành ngày 16 – 9 – 1960, Bảo tàng Việt Bắc thành lập ngày 19 – 12 - 1960, khánh thành phần trưng bày vào dịp 19 – 8 – 1963 và Bảo tàng Lai Châu có quyết định thành lập vào năm 1963. Ngày 5 – 8 – 1964 đế quốc Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc, thực hiện chỉ thị 104 – CT/TU của Ban bí thư về công tác văn hóa, văn nghệ trong tình hình mới, toàn ngành bảo Luan van 18 tàng đã chuyển sang tập trung phục vụ chiến đấu gắn liền với việc giữ gìn bảo vệ lực lượng, bảo vệ cơ sở vật chất của ngành.
Đến ngày 26 - 6 - 1966, thêm một bảo tàng trung ương nữa được khánh thành là Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam tại Hà Nội. Trong giai đoạn từ 1969 – 1971, Mỹ buộc phải tạm ngừng bắn phá từ vĩ tuyến 20 trở ra, nhiều cơ sở bảo tàng tỉnh ở miền Bắc đã có điều kiện để sưu tầm, lưu giữ nhiều tài liệu, hiện vật về cuộc chiến tranh chống Mỹ. Một số tỉnh đã tiến hành trưng bày phần “chống Mỹ cứu nước” và phần “xây dựng chủ nghĩa xã hội” như Hà Nam, Hà Tĩnh, Hải Phòng, Bắc Giang, Hà Nội, Quảng Bình, Hà Tây… Năm 1972 là khoảng thời gian mà chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ diễn ra ác liệt nhất và đã để lại những tổn thất rất nặng nề cho 12 cơ sở bảo tàng ở các tỉnh phía Bắc. Ngày 27 – 1 – 1973, Hiệp định Paris đã được ký kết, Mỹ tạm ngừng bắn phá miền Bắc và rút hết quân đội Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam.
Các tỉnh đã nhanh chóng khắc phục hậu quả của chiến tranh, hiện vật tại các nơi sơ tán được chuyển gấp về để tiến hành trưng bày triển lãm phục vụ những nhiệm vụ trong và sau chiến tranh. Một số tỉnh đã cải tạo cơ sở bị đánh phá, xây dựng cơ sở mới cho bảo tàng và tổ chức trưng bày như Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Bắc Giang, Nam Hà, Hà Tây… Từ đó, các cơ sở bảo tàng tiếp tục tiến hành sưu tầm tài liệu hiện vật để bổ sung, làm phong phú cho kho cơ sở của bảo tàng như Bảo tàng tỉnh Hòa Bình đã có 1.976 tài liệu hiện vật, Bảo tàng Thái Bình đã có 2.091 tài liệu hiên vật… Tính đến trước ngày giải phóng miền Nam, miền Bắc có 9 viện bảo tàng Trung ương và địa phương lớn, 21 nhà trưng bày chuyên đề, 67 bảo tàng cơ sở (huyện, các đơn vị bộ đội). Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Bộ Văn hóa ban hành Chỉ thị số 2760/VHTT – CT ngày 19/10/1979 và Quy chế số 272/VH – TT ngày 09/04/1980 về việc xây dựng bảo tàng tỉnh thành phố, từ đó việc xây dựng bảo tàng thực sự trở thành một hoạt động có ý nghĩa và nhận được sự ủng hộ của nhiều địa phương. Các tỉnh trong cả nước đã tích cực chuẩn bị xây dựng bảo tàng tỉnh, thành phố.
Tính đến quý III năm 1980 ở miền Bắc có 5 tỉnh, thành có chủ trương xây dựng bảo tàng; 6 tỉnh, thành có quyết định chính thức của Uỷ ban nhân dân tỉnh về tổ chức bảo tàng; 5 tỉnh, thành có nhà trưng bày thường trực chuyên đề; 19 tỉnh, thành đã xây dựng được kho cơ sở để bảo quản. Luan van 19 Ở miền Nam, sau ngày giải phóng, các tỉnh đã tổ chức nhiều hình thức hoạt động bảo tàng như: triển lãm lưu động, triển lãm tài liệu hiện vật về chiến thắng của ta và tội ác của đế quốc Mỹ. Một số tỉnh miền Nam kết nghĩa với miền Bắc trong hoạt động bảo tồn, bảo tàng như: mở các lớp huấn luyện cấp tốc, tổ chức nghiên cứu khảo sát, sưu tầm di tích, cải tạo chỉnh lý những bảo tàng cũ của địch, xây dựng những nhà trưng bày mới tại nhiều địa phương. Bên cạnh việc tiếp thu, quản lý một số bảo tàng và di tích do người Mỹ trước đó chiếm giữ như Bảo tàng Parmentier, Bảo tàng Khải Định, Bảo tàng Hải Dương học, Bảo tàng Quốc gia Sài Gòn (trước là Bảo tàng Blanchard de la Brosse), các tỉnh, thành phố đã thi hành Chỉ thị 2760VHTT/QĐ về xây dựng bảo tàng tỉnh, thành phố của Bộ Văn hóa Thông tin.
Đến quý III năm 1980 đã có 10 tỉnh có chủ trương xây dựng bảo tàng; 12 tỉnh, thành phố có nhà trưng bày thường trực và nhà trưng bày chuyên đề; 12 tỉnh thành phố có kho cơ sở bảo quản hiện vật. Đến cuối những năm 80 của thế kỷ XX, ở các tỉnh phía nam đã có hàng loạt các bảo tàng được thành lập. Đến năm 1988, cả nước có 28 trên 40 tỉnh, thành phố hình thành bảo tàng tỉnh, có bộ máy làm việc theo quy chế bảo tàng tỉnh. Còn lại trên 10 tỉnh đang chuyển hướng từng bước từ phòng bảo tồn - bảo tàng sang bảo tàng tỉnh.
Những năm qua cùng với việc cải tạo, nâng cấp trưng bày một số bảo tàng Trung ương như: Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam (tức Bảo tàng Quân đội)…chúng ta đã tiến hành xây dựng một số bảo tàng mới, tiêu biểu là: Bảo tàng Hồ Chí Minh, Bảo tàng Tôn Đức Thắng, Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam, Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, Bảo tàng dân tộc học. Năm 2002, Chính phủ cho phép các bảo tàng Việt Nam gia nhập Hội đồng Bảo tàng quốc tế và thành lập “Hội đồng bảo tàng Việt Nam” (ICOM Việt Nam) với 5 thành viên: Cục Di sản văn hóa, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, Bảo tàng Địa chất Việt Nam, Bảo tàng Hải dương học Việt Nam. Đến tháng 8 năm 2008, ICOM Việt Nam đã kết nạp thêm 6 thành viên là Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, Bảo tàng Hồ Chí Minh, Bảo tàng Mỹ thuật, Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, Trung tâm tư vấn thiết Luan van 20 kế bảo tàng, Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh (Thành phố Hồ Chí Minh). Như vậy, đến nay ICOM Việt Nam đã có 11 thành viên.
Việc tham gia tổ chức ICOM đã giúp cho hệ thống bảo tàng Việt Nam có điều kiện để học tập, nâng cao hiểu biết, chia sẻ kinh nghiệm từ ICOM thế giới. Đồng thời với tư cách là thành viên của ICOM, các bảo tàng Việt Nam sẽ được tham dự vào các cuộc thảo luận và trao đổi văn hóa của cộng đồng bảo tàng quốc tế, cũng như tham gia vào việc thảo luận liên quan đến tương lai của cán bộ bảo tàng. Từ khi tham gia ICOM (2002) đến nay, nhân Ngày quốc tế Bảo tàng các bảo tàng đều có những hoạt động thiết thực, bám sát với chủ đề mà ICOM đưa ra để tổ chức, trưng bày giới thiệu những chương trình, chuyên đề hoạt động của bảo tàng mình, như chương trình “Bảo tàng và gia đình”, “Bảo tàng và di sản phi vật thể” năm 2004; “Hội thảo phương pháp trưng bày và giới thiệu hiện vật bảo tàng” do Cục Di sản Văn hoá tổ chức tại Hà Nội năm 2005; “Bảo tàng với công tác giáo dục học sinh phổ thông” do Cục Di sản văn hoá phối hợp với bảo tàng Hồ Chí Minh tổ chức năm 2006; “Thế giới cùng nhau làm việc mãi mãi” năm 2006, “Sinh nở: hành vi, hiện vật và nghi lễ” năm 2008 của Bảo tàng Dân tộc học… Ngày 23 – 06 - 2005 Phó thủ tướng Chính phủ Phạm Gia Khiêm ký quyết định số 156/2005/QĐ – TTg về việc Phê duyệt quy hoạch tổng thể hệ thống bảo tàng Việt Nam đến năm 2020, Bộ Văn hóa – Thông tin đã triển khai bước đầu các dự án xây dựng các bảo tàng mới là Bảo tàng thiên nhiên Việt Nam, Bảo tàng Văn học Việt Nam, Bảo tàng Lịch sử quốc gia Việt Nam. Toàn bộ những thành tựu trên đây đã tạo nên sự thay đổi cả về số lượng và chất lượng của hệ thống bảo tàng Việt Nam.
Cho đến nay, hệ thống bảo tàng đã phát triển rộng khắp trên cả nước, vừa phong phú về loại hình, vừa đa dạng về hiện vật. Theo số liệu của cục Bảo tồn Bảo tàng, đến năm 2005, nước ta đã có 117 cơ sở bảo tàng. Trong đó có 13 bảo tàng Trung ương, 58 bảo tàng địa phương, 25 bảo tàng quân binh chủng, quân khu, quân đoàn. Ngoài ra còn có nhiều cơ sở bảo tàng thuộc các ngành khoa học, đoàn thể, hàng trăm các nhà truyền thống.
Đáng chú ý là nhiều năm gần đây, sau khi Luật di sản văn hóa ra đời, cho phép tư nhân thành lập bảo tàng thì bên cạnh hệ thống nhà bảo tàng do Nhà nước xây dựng, đầu tư sưu tầm và trưng bày hiện vật, trong xã hội còn xuất hiện một số bảo tàng tư nhân. Các Luan van 21 bảo tàng này cũng đã góp phần quan trọng vào việc bảo quản hiện vật và giới thiệu với công chúng. Đến năm 2010, sau một thế kỷ phát triển bảo tàng, chúng ta có 127 bảo tàng, trong đó có 7 bảo tàng quốc gia (gồm 6 bảo tàng ở Hà Nội và 1 Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam tại Thái Nguyên), 26 bảo tàng thuộc lĩnh vực quân đội, có 119 bảo tàng thuộc sở hữu nhà nước và 8 bảo tàng thuộc sở hữu tư nhân. Đây là kết quả đáng ghi nhận, cho thấy bảo tàng đang ngày càng trở thành một thiết chế văn hóa đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của đất nước ta hiện nay.
Bảo tàng - tài nguyên quan trọng cho du lịch 1. Vai trò của bảo tàng đối với đời sống xã hội Sự xuất hiện của bảo tàng trong lịch sử xã hội không phải là một hoạt động ngẫu nhiên hay do ý muốn chủ quan của một cá nhân mà đó là kết quả sự vận động tất yếu trong nhu cầu văn hóa xã hội của loài người. Vì lẽ đó mà các bảo tàng có vai trò to lớn đối với đời sống xã hội của mỗi quốc gia.