CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1. Lý do chọn đề tài Thuyết hết quyền SHTT được hình thành từ những phán quyết của Toà án và hiện nay được chuyền tải vào pháp luật nhiều quốc gia do yêu câu thực thi Hiệp định TRIPS - Hiệp định bao gồm một điều quy định về hết quyền SHTT (Điều 6). Thuyết hết quyền được tao ra nhằm kiểm soát tính độc quyền của quyền SHTT. Thuyết này xác định thời điểm cham dứt quyền SHTT của chủ thé nắm giữ quyền SHTT đối với sản phẩm cụ thể được bảo hộ quyền SHTT.
Theo thuyết hết quyền SHTT, hết quyền SHTT xảy ra khi sản phẩm được đưa ra thị trường bởi chính chủ thé nam giữ quyền SHTT hoặc với sự đồng ý của chủ thé này. Hệ quả là, chủ thé năm giữ quyền SHTT mất quyền kiểm soát sự lưu thông tiếp theo của sản phẩm; người mua có quyên sử dụng, tặng cho, chào hàng, bán lại sản phẩm. Bên cạnh đó, quyền kiểm soát hoạt động xuất nhập khẩu sản phẩm của chủ thể năm giữ quyền SHTT về nguyên tắc cũng không còn khi cơ chế hết quyền khu vực hoặc cơ chế hết quyền quốc tế được áp dụng. Hết quyền SHTT được thừa nhận là một vẫn đề phức tạp xuất phát từ các khía cạnh kinh tế và pháp lý của nó.
Trước hết, hết quyền SHTT phản ánh mỗi quan hệ giữa pháp luật cạnh tranh và pháp luật SHTT. “Mối quan hệ giữa bảo hộ quyền SHTT và chính sách cạnh tranh làm phát sinh những van dé phức tạp, những vấn dé này đã nhận được nhiều giải pháp pháp lý đồng thời gây ra nhiều tranh cãi.” Cụ thé, việc thực hiện các quyên SHTT mang tính chất độc quyền có thé gây ra những rào can phi thué quan đôi với co hội tiếp cận hàng hoá và dịch vụ được bảo hộ quyền SHTT cũng như với sự lưu thông bình thường của những sản pham này. Mục 3 Hiệp định TRIPS là Phu lục 1C của Thoa thuận Marrakesh về thiết lập WTO, được ký tại Marrakesh, Morocco ngày 15 tháng 4 năm 1994. Toàn văn Hiệp định: <http://www.org/english/tratop_e/trips_e/t_agm0_e.
*# Về mối quan hệ giữa pháp luật sở hữu tri tué và pháp luật cạnh tranh, xem: Anderman, Steven D.), The Interface between IPRs ad Competition Policy, Cambrige University Press, 2008; Pham, Alice, Competition Law and Intelelctual Property Rights: Controlling Abuse or Abusing Control? CUTS International, Jaipur, Inida, 2008; Hart, Tina & Fazzani, Linda & Clark, Simon, Hart, Tina & Fazzani, Linda & Clark, Simon, Intellectual Property Law, 5" edn. > UNCTAD-ICTSD Project on IPRs and Sustainable Development, Resource Book on TRIPS and Development, Cambridge University Press, 2005, tr. đích của việc áp dụng thuyết hết quyên là cân băng xung đột vốn có giữa lợi ích của chủ thé nam giữ quyền SHTT va lợi ích của người tiêu dùng cũng như giữa bảo vệ quyền SHTT và đảm bảo sự lưu thông bình thường của hàng hoá, dịch vụ. Đối với thương mại quốc tế, việc áp dụng thuyết hết quyền nhằm ngăn chặn các chủ thể năm giữ quyền SHTT sử dụng quyền SHTT dé chia cắt thị trường.
Do đó, hết quyền SHTT liên quan rất nhiều đến các van đề kinh tế. Hơn nữa, khó đánh giá một cách day đủ những tác động của mỗi cơ chế hết quyền. Tác động của cơ chế hết quyền “rất khác biệt giữa các nước, các ngành công nghiệp và các đối tượng SHTT.”” Chắng hạn, Mỹ áp dụng cơ chế hết quyền quốc gia, Liên minh Châu Âu lựa chọn cơ chế hết quyền khu vực, trong khi đó sự lựa chọn cơ chế hết quyền lại không rõ ràng đối với một số nước phát triển khác. Trong các đối tượng SHTT, cơ chế hết quyền quốc tế dường như phù hợp với nhãn hiệu hơn với sáng chế và quyên tác giả.
Ở cấp độ quốc tế, văn bản pháp luật quốc tế quan trọng nhất quy định về hết quyền SHTT nói chung và hết quyền đối với nhãn hiệu nói riêng là Hiệp định TRIPS. Hiệp định TRIPS phản ánh những nỗ lực của các quốc gia trong việc loại bỏ rào cản đối với thương mại quốc tế, đồng thời khang định hết quyền SHTT là một trong những khía cạnh thương mại của quyền SHTT. Bên cạnh những yêu cầu tối thiểu, Hiệp định TRIPS cũng bao gồm các quy định tuỳ nghi cho phép các nước thành viên WTO sử dụng trong xây dựng pháp luật và giải quyết những vấn đề liên quan đến hết quyền SHTT. Theo đó, mỗi nước thành viên có quyền lựa chọn chính sách, nguyên tắc đối với hết quyền SHTT và thương mại song song.
Xuất phát từ những quy định tuỳ nghi của Hiệp định TRIPS về hết quyền SHTT, những khác biệt về pháp luật hết quyên đối với nhãn hiệu giữa các nước thành viên WTO vẫn tiếp tục tồn tại như trước khi thiết lập Hiệp định này. Đối với Việt Nam, song song với những thay đổi lớn trong lĩnh vực pháp luật kế từ khi ban hành Hiến pháp năm 1992, vấn đề hết quyền SHTT - một van dé mới chứa đựng các khía cạnh thương mại - lần đầu tiên được quy định trong BLDS năm ° Fink, Carsten and Maskus, Keith E.), Intellectual Property and Development: Lessons from recent economic research, A copublication of the World Bank and Oxford University Press, 2005, tr.Š Ké từ những quy định mang tính bước ngoặt này, hết quyền được thừa nhận ở Việt Nam mặc dù thuật ngữ “hết quyền” không xuất hiện trong bất kỳ văn bản pháp luật nào. Việt Nam quy định rõ cơ chế hết quyền quốc tế được áp dụng cho nhãn hiệu (theo quy định tại Điều 125(2)(b) Luật SHTT)” và NKSS thuốc được công nhận hợp pháp (theo quy định của Quyết định 1906/2004/QD-BYT)'°. Tuy vậy, “Việt Nam vẫn là một nước đang chuyển đôi và cả các học giả Việt Nam cũng như nước ngoài đều cho răng khung pháp lý còn thiếu đồng bộ và chưa hoàn chỉnh, ít nhất là đối với các van dé liên quan đến thương mại.
”!' Nhận xét này hoàn toàn chính xác đối với các quy định pháp luật về hết quyền đối với nhãn hiệu, trong đó một số quy định chưa rõ ràng và nhiều quy định chưa đây đủ hoặc thiếu quy định cần thiết. Hết quyền SHTT mới chỉ được giải quyết tại các cơ quan hành chính trong một số vụ việc (điển hình là vụ Tribeco va vụ Kingmax) `” và chưa được giải quyết tại Toà án. Nói chung, các vấn đề liên quan đến hết quyền SHTT vẫn là những vấn đề mới đối với Việt Nam. Những hạn chế vừa nêu đã tôn tại từ trước và tiếp tục tôn tại khi Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO vào ngày 11 tháng 01 năm 2007.
Van dé là Việt Nam phải làm thé nào dé tuân thủ các yêu cầu tối thiểu của Hiệp định TRIPS, đồng thời sử dụng được những quy định tuỳ nghi của Hiệp định về hết quyên SHTT ở mức độ “đầy đủ H4 2913 é re of é “Á 2 H4 l4 14 rN é ^ 4 nhât”~ cho phù hợp với lợi ích va chiên lược cua dat nước. Điêu này không dé 7 BLDS của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội thông qua thang 10 năm 1995 và có hiệu lực từ ngày | tháng 7 năm 1996. Š Nghị định 63/CP ngày 24 tháng 10 năm 1996 quy định chi tiết về SHCN (Nghị định này đã hết hiệu lực kê từ ngày BLDS năm 2005 có hiệu lực thi hành vào ngày 01 tháng 7 nam 2006). ? Luật SHTT năm 2005, số 34/2005/QH11.
'° Quyết định 1906/2004/QD-BYT ban hành quy định về NKSS thuốc phòng và chữa bệnh cho người. !! Christina Moéll, Rules of Origin in the Common Commercial and Development Policies of the European Union, Juristforlaget in Lund, 2008, tr. '? Vụ việc Tribeco liên quan đến điều kiện dan đến hết quyền SHCN và được giải quyết tại các cơ quan hành chính Việt Nam (1999-2001), xem Phan 5. dé có thêm chỉ tiết.
Vụ việc Kingmax liên quan đến NKSS và cũng được giải quyết tại co quan hành chính, xem Phan 5. dé có thêm chi tiết. 'S Matthews, Duncan and Munoz-Tellez, Viviana, Parallel Trade: A User’s Guide (in Intellectual Property Management in Health and Agricultural Innovation: A Handbook of Best Practices, eds. A Krattiger, RT Mahoney, L Nelson, et., and PIPRA: Davis, U.
dàng như đã được chứng minh trong thực tiễn của nhiều nước. Hết quyền SHTTT là một lĩnh vực pháp luật phức tạp. Khi được sử dụng hiệu quả, pháp luật hết quyền SHTT trở thành một công cụ hữu ích trong xử lý, kiềm chế thực tế chống cạnh tranh liên quan đến quyền SHTT và mang lại lợi ích cho cả người tiêu dùng cũng như chủ thé nam giữ quyền SHTT. Hết quyền SHTT có thé xử lý thực tế chống cạnh tranh khi bất kỳ cơ chế hết quyền nào được áp dụng: hết quyền quốc gia, hết quyền khu vực hay hết quyền quốc tế.
Hết quyền ngăn chặn chủ thé nam giữ quyền SHTT mở rộng phạm vi những quyền nhất định, áp đặt những điều khoản giới hạn trong hợp đồng đối với người mua, chia cắt thị trường.” Do đó, pháp luật về hết quyền SHTT góp phan thúc day phát trién kinh tế và phúc lợi xã hội. So với hết quyền đối với các đối tượng SHTT khác,'“ hết quyền đối với nhãn hiệu có một số đặc điểm khác biệt và chứa đựng nhiều vấn dé gây tranh cãi xuất phat từ chức năng chỉ dẫn nguồn gốc, chức năng phân biệt hàng hoá và dịch vụ, khả năng tạo ra quyền lực thị trường của nhãn hiệu thấp (đặc biệt so với sáng chế và quyền tác giả) và khả năng được bảo hộ vô thời hạn. Nếu như không ai nghi ngờ về hết quyền đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp và quyên tác giả, kha năng áp dụng của thuyết hết quyền đối với nhãn hiệu còn là van đề tranh cãi. Hơn nữa, co chế hết quyền quốc tế đường như thích hợp hơn với nhãn hiệu trong khi đó cơ chế hết quyền quốc gia lại thường được áp dụng cho sáng chế và quyền tác giả.
Sửa chữa thường xảy ra với hàng hoá mang nhãn hiệu (và sáng chế) được bảo hộ nhưng lại hiếm khi xảy ra với hàng hoá được bảo hộ quyên tác giả. Cũng do đặc điểm của nhãn hiệu, pháp luật cạnh tranh được cho là không cần thiết can thiệp vào các thoả thuận giới hạn trong hợp đồng liên quan đến nhãn hiệu., Intellectual Property Rights, the WTO and Developing Countries: The TRIPS Agreement and Policy Options, Zed Books Ltd. 225; Duran, Esperanza and Michalopoulos, Constantine, /ntellectual Property Rights and Developing Countries in the WTO Millennium Round, Volume 2, Issue 6, nam 1999, tr. 'S Nguyen, Nhu Quynh, Exhaustion as a tool to address abusively anti-competitive practice uses of intellectual property rights, IP&Competition Policy/CDIP/Study/02/2011, The WIPO Project on Intellectual Property and Competition Policy, Nov.
'* Trong luận án này, hết quyền đối với nhãn hiệu chủ yếu được so sánh với hết quyền đối với sáng chế, quyên tác giả và kiểu dáng công nghiệp.