Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong bối cảnh nền kinh tế số và mạng Internet phát triển nhanh chóng, thương mại điện tử (TMĐT) đã trở thành phương thức kinh doanh tất yếu, thay thế và bổ trợ mạnh mẽ cho thương mại truyền thống. Tại Việt Nam, quy mô thị trường TMĐT ghi nhận sự tăng trưởng vượt bậc với doanh thu năm 2021 đạt 13,7 tỷ USD, tăng 16% so với năm 2020 và chiếm 6,5% tổng doanh thu bán lẻ cả nước. Tuy nhiên, tính chất phi biên giới, tính ẩn danh và môi trường giao dịch trực tuyến không tiếp xúc trực tiếp đã làm phát sinh nhiều thách thức nghiêm trọng đối với việc xác lập, khai thác và bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp (QSHCN) đối với nhãn hiệu (NH). Tình trạng lợi dụng nền tảng số để buôn bán hàng giả, hàng xâm phạm quyền nhãn hiệu, cạnh tranh không lành mạnh, đăng ký chiếm dụng tên miền và sử dụng từ khóa quảng cáo trái phép diễn ra ngày càng phức tạp.

Xuất phát từ thực trạng đó, khóa luận tốt nghiệp "Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu trong môi trường thương mại điện tử tại Việt Nam" của tác giả Nguyễn Minh Giang (chuyên ngành Pháp luật Kinh tế, Trường Đại học Luật Hà Nội) được thực hiện nhằm giải quyết các yêu cầu sau:

  • Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu một cách tổng thể cơ sở lý luận và các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam về bảo hộ QSHCN đối với NH; trên cơ sở đó nhận xét, đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật trong môi trường TMĐT, từ đó đề xuất các định hướng và giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả thực thi.
  • Đối tượng nghiên cứu (được xác định theo 3 nhóm nội dung):
    1. Các quan điểm, luận điểm khoa học về QSHCN đối với NH trong môi trường TMĐT.
    2. Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành điều chỉnh việc xác lập, khai thác, sử dụng và bảo vệ QSHCN đối với NH trong TMĐT.
    3. Thực tiễn áp dụng pháp luật, tình hình xâm phạm, hoạt động thực thi và xử lý vi phạm QSHCN đối với NH trên các nền tảng trực tuyến tại Việt Nam.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về không gian: Tập trung vào hệ thống pháp luật và thực tiễn thực thi quyền tại Việt Nam, kết hợp khảo cứu, so sánh có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế (như quy định của WIPO, EU, Hoa Kỳ, Trung Quốc và thực tiễn giải quyết án lệ tại Đài Loan).
    • Về thời gian: Phân tích hệ thống văn bản pháp luật từ Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019, 2022 có hiệu lực từ 01/01/2023) cùng các luật chuyên ngành liên quan; số liệu thực tiễn và vụ việc khảo sát tập trung chủ yếu trong giai đoạn từ năm 2019 đến năm 2023.

Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận được xây dựng dựa trên nền tảng lý luận luật học chuyên sâu về sở hữu trí tuệ và thương mại điện tử, kết hợp khung văn bản quy phạm pháp luật đa ngành:

  • Khung lý thuyết và khái niệm:
    • Khái niệm nhãn hiệu và quyền đối với nhãn hiệu: Tiếp cận định nghĩa nhãn hiệu theo Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (WIPO), Điều 15 Hiệp định TRIPS, Quy định của Hội đồng Liên minh Châu Âu số 207/2009 về Nhãn hiệu cộng đồng, Điều 8 Luật Nhãn hiệu Trung Quốc và Khoản 16 Điều 4, Điều 72 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam.
    • Học thuyết pháp lý nền tảng: Khái niệm "độc quyền tương đối", nguyên tắc xác lập quyền "nộp đơn đầu tiên" (first-to-file) đối sánh với "sử dụng đầu tiên" (first-to-use), cùng "Học thuyết hết quyền" (Exhaustion doctrine / nguyên tắc lần bán đầu tiên) theo Khoản 2 Điều 125 Luật SHTT.
    • Khái niệm TMĐT: Tiếp cận theo Luật mẫu của UNCITRAL về TMĐT năm 1996, định nghĩa của WTO, APEC (1998), Cục Thống kê Hoa Kỳ (2000), và mô hình quản trị kinh doanh 4 chữ MSDP (Marketing - Xúc tiến, Sales - Bán hàng, Distribution - Phân phối, Payment - Thanh toán).
  • Khung văn bản pháp luật áp dụng:
    • Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung các năm 2009, 2019, 2022);
    • Luật Cạnh tranh năm 2018, Luật Công nghệ thông tin năm 2006;
    • Nghị định số 52/2013/NĐ-CP và Nghị định số 85/2021/NĐ-CP về TMĐT;
    • Nghị định số 105/2006/NĐ-CP (sửa đổi bởi NĐ 119/2010/NĐ-CP), Nghị định số 99/2013/NĐ-CP (sửa đổi bởi NĐ 126/2021/NĐ-CP), Nghị định số 99/2020/NĐ-CP (sửa đổi bởi NĐ 17/2023/NĐ-CP);
    • Thông tư số 11/2015/TT-BKHCN và Thông tư liên tịch số 14/2016/TTLT-BTTTT-BKHCN.
  • Phương pháp nghiên cứu:
    • Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Phương pháp luận duy vật biện chứng, phương pháp phân tích quy phạm, phương pháp chứng minh luận điểm, so sánh luật học, thống kê, tổng hợp và quy nạp.
    • Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tế: Phương pháp quan sát thực tiễn hoạt động kinh doanh trên các sàn TMĐT (Shopee, Lazada, Tiki, Sendo) và mạng xã hội (Facebook, TikTok Shop); phương pháp thu thập, xử lý tài liệu từ các báo cáo chỉ đạo điều hành của Tổng cục Quản lý thị trường, Cục TMĐT và Kinh tế số (Bộ Công Thương); phương pháp điều tra, khảo sát qua điện thoại/thư điện tử với bộ phận chuyên trách của sàn TMĐT và người tiêu dùng.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Khái quát về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu trong môi trường thương mại điện tử

Chương 1 hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về nhãn hiệu và mối quan hệ tương tác hai chiều giữa QSHCN đối với nhãn hiệu và môi trường TMĐT. Tác giả chỉ rõ nhãn hiệu là tài sản trí tuệ vô hình, có chức năng cốt lõi là phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các chủ thể khác nhau, bảo đảm nguồn gốc xuất xứ và tạo dựng niềm tin cho người tiêu dùng. QSHCN đối với nhãn hiệu bao gồm quyền sử dụng (các độc quyền khai thác) và quyền định đoạt (chuyển nhượng, li-xăng, kế thừa, góp vốn, từ bỏ).

Tác giả phân tích nội dung bảo hộ QSHCN đối với nhãn hiệu trong TMĐT qua 3 khía cạnh cơ bản:

  1. Xác lập quyền: Sự xung đột giữa nguyên tắc bảo hộ theo lãnh thổ truyền thống và đặc tính phi biên giới của Internet; nguy cơ tranh chấp nhãn hiệu khi xuất hiện trên môi trường ảo tại quốc gia mà chủ sở hữu chưa kịp đăng ký bảo hộ.
  2. Khai thác quyền: Phát sinh các hình thức khai thác mới cùng các hành vi có nguy cơ xâm phạm cao như mua từ khóa tìm kiếm (keywords) chứa nhãn hiệu của bên khác, cài đặt thẻ ẩn (metatags) điều hướng khách hàng, hoặc xung đột giữa tên miền và nhãn hiệu theo nguyên tắc đăng ký tên miền "đến trước, phục vụ trước" (first come, first served).
  3. Bảo vệ quyền: Khó khăn trong việc định vị địa điểm xảy ra vi phạm, nhận diện chủ thể ẩn danh, thu thập chứng cứ điện tử, và xác định trách nhiệm pháp lý của các đơn vị trung gian cung cấp dịch vụ Internet/nền tảng TMĐT.
Yếu tố so sánh Môi trường truyền thống Môi trường thương mại điện tử
Phạm vi không gian Giới hạn theo biên giới quốc gia, địa lý vật lý cụ thể Phi biên giới, mở rộng toàn cầu theo kết nối Internet
Nhận diện vi phạm Kiểm tra trực tiếp trên bao bì, hàng hóa vật chất thực tế Khó nhận diện do công nghệ chỉnh sửa ảnh, kỹ xảo đồ họa số
Phương thức xâm phạm In ấn tem nhãn giả, làm giả hàng hóa, mở cửa hàng vật lý Dùng từ khóa tìm kiếm (keywords), metatag, đăng ký tên miền trùng NH
Chủ thể liên quan Nhà sản xuất, phân phối, đại lý bán lẻ, người tiêu dùng Có thêm sự xuất hiện của nhà cung cấp dịch vụ sàn TMĐT, nhà mạng trung gian

Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu trong môi trường thương mại điện tử tại Việt Nam

Chương 2 tập trung mổ xẻ các quy định thực định và đối chiếu với bức tranh thực tế tại Việt Nam:

  • Thực trạng quy định pháp luật:
    • Về xác lập quyền: Luật SHTT đã bổ sung dấu hiệu âm thanh và dấu hiệu ba chiều, tuy nhiên văn bản hướng dẫn thi hành còn thiếu cụ thể. Hệ thống án lệ Việt Nam chưa có án lệ nào thuộc lĩnh vực SHTT (trong số 52 án lệ đã công bố). Luật chưa có quy định trực tiếp về việc xử lý các dấu hiệu gây nhầm lẫn do công nghệ can thiệp đồ họa, kỹ thuật số trên môi trường mạng.
    • Về khai thác quyền và nghĩa vụ sử dụng: Phân tích nghĩa vụ sử dụng nhãn hiệu trong 5 năm liên tục theo Khoản 5 Điều 124 Luật SHTT và Điều 31 Thông tư 11/2015/TT-BKHCN (xác định website TMĐT là phương tiện kinh doanh). Tác giả dẫn chứng án lệ năm 2021 của Tòa án SHTT Đài Loan đối với tranh chấp chấm dứt hiệu lực nhãn hiệu của một chủ thể Nhật Bản trên nền tảng Amazon JP: Tòa án phán quyết việc bán hàng trên website có tên miền cấp cao nhất (TLD) là .jp, ngôn ngữ chỉ hiển thị tiếng Nhật/tiếng Anh, thanh toán bằng Yên Nhật và địa chỉ giao hàng hạn chế ra nước ngoài thì không đủ căn cứ chứng minh nhãn hiệu đã được "sử dụng thực tế" hướng tới người tiêu dùng tại Đài Loan.
    • Về bảo vệ quyền và chế tài xử lý: Hệ thống hóa 4 hành vi xâm phạm theo Điều 129, hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến tên miền theo Điều 130 Luật SHTT; cơ chế tự bảo vệ (Điều 198), biện pháp dân sự (Điều 202), biện pháp hành chính (Nghị định 99/2013/NĐ-CP, Nghị định 99/2020/NĐ-CP).
  • Thực tiễn thực thi và các bất cập nổi cộm:
    • Xung đột giữa tên miền và nhãn hiệu: Khoảng trống pháp lý khi Luật Cạnh tranh 2018 chỉ điều chỉnh chủ thể là tổ chức, cá nhân kinh doanh (không điều chỉnh cá nhân không đăng ký kinh doanh chiếm giữ tên miền); thiếu cơ chế liên thông giải quyết tranh chấp giữa cơ quan quản lý tên miền (VNNIC) và cơ quan quản lý SHTT.
    • Trách nhiệm của sàn TMĐT: Nghị định 85/2021/NĐ-CP đã bổ sung trách nhiệm gỡ bỏ thông tin vi phạm, nhưng thực tế việc phối hợp, kiểm duyệt chứng từ VAT, ủy quyền phân phối để mở "Shop Mall" còn lỏng lẻo. Tồn tại thủ đoạn lách kiểm duyệt bằng cách đăng tải sản phẩm vi phạm dưới danh mục "No brand" (không có thương hiệu) hoặc làm mờ nhãn hiệu trên ảnh rồi giao hàng giả.
    • Số liệu thực thi năm 2021: Lực lượng Quản lý thị trường phối hợp Cục TMĐT và Kinh tế số đã kiểm tra hơn 3.000 vụ việc lợi dụng TMĐT để kinh doanh hàng giả mạo, không rõ nguồn gốc, xâm phạm quyền SHTT với tổng số tiền xử phạt hành chính lên tới hơn 20 tỷ đồng.
+-------------------------------------------------------------------------------+
|  SỐ LIỆU THỰC TRẠNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VÀ THỰC THI SHTT TẠI VIỆT NAM (2021)   |
+-------------------------------------------------------------------------------+
| - Doanh thu TMĐT bán lẻ: 13,7 tỷ USD (tăng 16% so với 2020, chiếm 6,5% cả nước)|
| - Thị phần nền tảng ưa thích: Shopee (51%), Lazada (18%), Facebook (8%),      |
|   Tiki (7%)                                                                   |
| - Kết quả xử lý vi phạm: Hơn 3.000 vụ việc bị kiểm tra xử lý;                  |
|   Tổng số tiền xử phạt hành chính: Hơn 20 tỷ đồng                             |
+-------------------------------------------------------------------------------+

Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quy định pháp luật về quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu trong môi trường thương mại điện tử

Trên cơ sở phân tích lý luận và thực tiễn, chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ:

  • Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật:
    • Hoàn thiện Luật SHTT: Bổ sung các tiêu chí định lượng và định tính để xác định hành vi sử dụng nhãn hiệu trên website TMĐT xuyên biên giới (dựa trên tên miền quốc gia, ngôn ngữ hiển thị, đơn vị tiền tệ thanh toán, chính sách vận chuyển); ban hành quy định hướng dẫn chi tiết bảo hộ và xử lý xâm phạm đối với nhãn hiệu phi truyền thống (nhãn hiệu âm thanh, hình ảnh 3D) trên không gian số.
    • Hoàn thiện pháp luật liên quan: Bổ sung vào Luật Cạnh tranh quy định xử lý trực tiếp hành vi đăng ký, chiếm giữ tên miền gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của mọi chủ thể; xây dựng quy chế phối hợp chính thức giữa Cục Sở hữu trí tuệ và Trung tâm Internet Việt Nam (VNNIC) tương tự cơ chế chính sách giải quyết tranh chấp tên miền thống nhất (UDRP) của WIPO và ICANN.
  • Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi:
    • Đối với cơ quan nhà nước: Nâng cao năng lực chuyên môn và đầu tư công nghệ kỹ thuật số cho lực lượng Quản lý thị trường, Thanh tra Bộ KH&CN; đẩy mạnh áp dụng công cụ rà soát tự động các đường link vi phạm.
    • Đối với sàn giao dịch TMĐT: Tăng cường trách nhiệm pháp lý liên đới; siết chặt quy trình thẩm định hồ sơ đầu vào (hóa đơn VAT, giấy ủy quyền phân phối); thiết lập bộ lọc tự động phát hiện hành vi gắn mác "No brand" cho các sản phẩm có dấu hiệu nhái mẫu mã nhãn hiệu nổi tiếng; áp dụng chế tài đóng vĩnh viễn các gian hàng tái phạm.
    • Đối với chủ sở hữu nhãn hiệu và người tiêu dùng: Doanh nghiệp cần chủ động đăng ký xác lập quyền sớm, đăng ký mở rộng tên miền và nhãn hiệu trên các thị trường trọng điểm; áp dụng giải pháp công nghệ chống giả (tem QR, truy xuất nguồn gốc); người tiêu dùng cần nâng cao ý thức cảnh giác và tích cực thực hiện quyền phản ánh, khiếu nại vi phạm.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả nghiên cứu chính:
    • Làm rõ tính chất đặc thù của môi trường TMĐT ảnh hưởng đến việc thực thi quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu, phân định rõ ranh giới giữa việc khai thác hợp pháp và các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, xâm phạm quyền.
    • Hệ thống hóa đầy đủ cơ sở pháp lý thực định tại Việt Nam điều chỉnh nhãn hiệu trên không gian mạng từ năm 2005 đến Luật SHTT sửa đổi năm 2022 (có hiệu lực 2023).
    • Khái quát bức tranh thực tế với các số liệu cụ thể: doanh thu TMĐT năm 2021 (13,7 tỷ USD), tỷ lệ ưu tiên nền tảng mua sắm (Shopee 51%, Lazada 18%), và kết quả xử lý vi phạm của cơ quan chức năng (hơn 3.000 vụ việc, phạt hơn 20 tỷ đồng).
  • Đóng góp so với các công trình nghiên cứu trước:
    • So với các công trình trước đây như Luận án Tiến sĩ của Phạm Thị Mai Khanh (2016) hay Đề tài nghiên cứu của TS. Nguyễn Quỳnh Trang (2019), khóa luận đã cập nhật những biến động pháp lý mới nhất sau khi Luật SHTT năm 2022 được thông qua và có hiệu lực.
    • So với Luận án Tiến sĩ của Trần Thị Thanh Huyền (2021), công trình của tác giả Nguyễn Minh Giang đã đào sâu vào các vấn đề thực tiễn phát sinh từ năm 2021 đến 2023, đặc biệt là hiện tượng lách luật qua danh mục "No brand" trên sàn TMĐT và phân tích bài học kinh nghiệm từ án lệ sử dụng nhãn hiệu trên website TMĐT xuyên biên giới của Tòa án SHTT Đài Loan.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài:
    • Phạm vi dữ liệu khảo sát thực tiễn tập trung chủ yếu từ năm 2019 đến năm 2023; chưa bao quát hết các mô hình kinh doanh TMĐT siêu nhỏ mới nổi trên các nền tảng mạng xã hội phát triển nhanh (như TikTok Shop trong giai đoạn sau 2023).
    • Khóa luận chủ yếu tiếp cận dưới góc độ khoa học pháp lý chuyên ngành Pháp luật Kinh tế của Việt Nam, dung lượng nghiên cứu so sánh chuyên sâu về cơ chế miễn trừ trách nhiệm của bên trung gian (Safe Harbor) theo pháp luật Hoa Kỳ (DMCA) hoặc Châu Âu còn ở mức độ khái quát.
  • Hướng nghiên cứu mở tiếp theo:
    • Nghiên cứu cơ chế tự động hóa bằng trí tuệ nhân tạo (AI) trong việc giám sát, phát hiện vi phạm nhãn hiệu trên sàn TMĐT.
    • Đánh giá tác động và hoàn thiện khung pháp lý về trách nhiệm pháp lý thứ cấp (secondary liability) của các đơn vị trung gian cung cấp dịch vụ Internet, dịch vụ kho bãi, hoàn tất đơn hàng và dịch vụ thanh toán trực tuyến.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu học thuật có giá trị tham khảo rõ ràng và thiết thực:

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Sinh viên, học viên cao học, giảng viên các chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ và Quản trị kinh doanh thương mại.
    • Đội ngũ luật sư, chuyên viên pháp chế nội bộ (In-house Counsel) tại các doanh nghiệp thương mại điện tử, doanh nghiệp bán lẻ và các công ty đại diện sở hữu công nghiệp.
    • Cán bộ thực thi pháp luật thuộc lực lượng Quản lý thị trường, Thanh tra Bộ Khoa học & Công nghệ, Tòa án nhân dân và cơ quan quản lý Internet (VNNIC).
  • Nội dung giá trị nhất:
    • Phân tích chi tiết về tiêu chuẩn chứng minh "hành vi sử dụng nhãn hiệu trên website TMĐT" qua nghiên cứu tình huống thực tế của Đài Loan (giúp xử lý các yêu cầu hủy bỏ hiệu lực nhãn hiệu do không sử dụng).
    • Hệ thống hóa các phụ lục thực tế minh họa chi tiết các thủ đoạn xâm phạm nhãn hiệu dạng "No brand" và quy trình xác thực chứng từ lên "Shop Mall" trên các sàn TMĐT.

Câu hỏi thường gặp

1. Việc đưa hình ảnh nhãn hiệu lên website TMĐT có tên miền quốc tế (.com, .net) sử dụng tiếng Anh có được coi là bằng chứng sử dụng nhãn hiệu hợp pháp tại Việt Nam để tránh bị đình chỉ/chấm dứt hiệu lực không?
Theo phân tích của tác giả căn cứ Khoản 5 Điều 124 Luật SHTT và Điều 31 Thông tư 11/2015/TT-BKHCN, website TMĐT là phương tiện kinh doanh, nhưng pháp luật Việt Nam hiện chưa có quy định cụ thể về việc website quốc tế có đương nhiên được coi là sử dụng tại Việt Nam hay không. Dựa trên kinh nghiệm án lệ quốc tế, nếu website sử dụng ngôn ngữ tiếng Anh, thanh toán bằng ngoại tệ, không có tùy chọn giao hàng tới người tiêu dùng Việt Nam thì không đủ căn cứ chứng minh nhãn hiệu đã được "sử dụng trong thương mại" nhằm tới thị trường Việt Nam.

2. Án lệ năm 2021 của Tòa án SHTT Đài Loan được tác giả viện dẫn đã dựa trên những căn cứ nào để chấm dứt hiệu lực nhãn hiệu của cá nhân người Nhật Bản?
Tòa án SHTT Đài Loan giữ nguyên quyết định hủy bỏ hiệu lực nhãn hiệu vì: (1) Thỏa thuận giữa chủ nhãn hiệu và công ty Đài Loan là quan hệ mua bán thông thường, không phải hợp đồng li-xăng nhãn hiệu; (2) Nền tảng bán hàng trực tuyến (Amazon JP) có tên miền cấp cao nhất là .jp, sử dụng tiếng Nhật/tiếng Anh/tiếng Trung giản thể (không có tiếng Trung phồn thể của Đài Loan); (3) Giá niêm yết bằng Yên Nhật và quy trình giao hàng quốc tế không hướng tới người tiêu dùng tại Đài Loan một cách trực tiếp.

3. Vì sao Luật Cạnh tranh năm 2018 lại bộc lộ khoảng trống pháp lý khi xử lý hành vi đầu cơ, chiếm giữ tên miền trùng với nhãn hiệu?
Theo Khoản 6 Điều 3 Luật Cạnh tranh 2018, đối tượng áp dụng của luật chỉ giới hạn đối với tổ chức, cá nhân có hoạt động kinh doanh. Do đó, trường hợp cá nhân hoặc tổ chức không đăng ký kinh doanh thực hiện hành vi đăng ký chiếm giữ tên miền trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác nhằm mục đích đầu cơ, bán lại thì không thuộc phạm vi điều chỉnh trực tiếp của pháp luật cạnh tranh.

4. Thủ đoạn đăng ký sản phẩm dưới dạng "No brand" trên sàn TMĐT vi phạm quyền nhãn hiệu như thế nào?
Như tác giả trình bày tại các Phụ lục 1, 2 và 4, người bán lợi dụng tính năng phân loại của sàn TMĐT để đăng ký sản phẩm vào mục "No brand" (không thương hiệu) nhằm vượt qua bộ lọc tự động kiểm duyệt hàng chính hãng; tuy nhiên, trên hình ảnh sản phẩm thực tế hoặc hàng hóa giao cho khách lại gắn nhãn hiệu trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với các nhãn hiệu nổi tiếng đã được bảo hộ.

5. Cơ quan quản lý nào tại Việt Nam chịu trách nhiệm xử lý hành vi vi phạm liên quan đến tên miền quốc gia ".vn" xâm phạm quyền SHTT?
Theo quy định tại Thông tư liên tịch số 14/2016/TTLT-BTTTT-BKHCN và Luật CNTT, Trung tâm Internet Việt Nam (VNNIC) thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông là đơn vị quản lý, có thẩm quyền thực hiện thủ tục thay đổi, thu hồi tên miền ".vn" khi có kết luận thanh tra hoặc phán quyết của cơ quan có thẩm quyền xác định tên miền vi phạm pháp luật SHTT.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Minh Giang đã phản ánh sâu sắc mối quan hệ đa chiều giữa bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu và môi trường thương mại điện tử tại Việt Nam. Công trình đã phân tích thấu đáo thực trạng quy định pháp luật thực định, chỉ ra những bất cập về xung đột nhãn hiệu - tên miền, nghĩa vụ sử dụng nhãn hiệu trên website và trách nhiệm của sàn TMĐT. Hệ thống các giải pháp hoàn thiện pháp luật và kiến nghị thực thi được đề xuất mang tính đồng bộ, có cơ sở lý luận vững chắc và giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho công tác lập pháp và quản lý thị trường số tại Việt Nam.