Chương 1 Thông tư 01/2007/TT-BKHCN. 14 chuyển giao và thỏa thuận chuyển giao các đặc quyền kinh doanh.2 Khái niệm hành vi giả mạo nhãn hiệu Quyền SHCN mang lại cho chủ thể sở hữu các quyền nhất định ví dụ như quyền sở hữu, sử dụng và định đoạt tài sản hoặc yêu cầu khôi phục và khôi phục tình trạng ban đầu đối với tài sản mình sở hữu. Tuy nhiên, của chủ tài sản SHTT không phải là chủ thể được toàn quyền cũng như định đoạt hoàn toàn đối với các tài sản hữu hình mà vẫn bị giới hạn trong một số trường hợp khác được PL quy định18. Hành vi xâm phạm quyền SHCN là những hành vi trái phép với PL biểu hiện qua các xử sự không đúng với PL quy định liên quan của cá nhân và tổ chức, chúng được tạo trên cơ sở của các nhận thức nói riêng và đồng thời thực hiện thông qua các hành động và xâm phạm đến các quan hệ PL về quyền SHCN liên quan đến nhãn hiệu.
Xâm phạm quyền SHCN đối với nhãn hiệu cần các CQNN và các cá nhân có vai trò xử lý cũng như giải quyết các vi phạm, đồng thời xác định được tính chất và cũng như mức độ nguy hiểm do hành vi vi phạm quyền SHCN liên quan đến nhãn hiệu, từ đó phân tích được thiệt hại có thể xảy ra do các hành vi liên quan đến SNCN tác động tới nhãn hiệu, ý chí của các cá nhân, chủ thể có quyền trong việc xử lý các xâm phạm quyền SHCN liên quan đến nhãn hiệu để cân nhắc các biện pháp xử lý thỏa đáng. Các nhãn hiệu của các tổ chức khác nhau có dấu hiệu tương đồng hoặc đồng nhất không thể được sử dụng cùng một thời điểm sử dụng cho các sản phẩm có tính chất và hình thức giống với nhau, việc sử dụng hoặc giả mạo nhãn hiệu của bất kỳ chủ thể nào cũng khiến chủ thể có quyền đối với sản phẩm đó bị giảm doanh thu cũng như ảnh hưởng đến uy tín của sản phẩm đó. Quyền SHTT đối với nhãn hiệu là tài sản vô hình, tuy nhiên giá trị mà chúng Đỗ Đô Thành (2014), Hàng hóa giả mạo về SHTT theo luật SHTT, Luận văn Thạc sĩ, Khoa Luật – ĐH 18 Quốc gia Hà Nội. 15 đem lại cho chủ sở hữu nhãn hiệu và tổ chức cá nhân là không hề nhỏ; các nhãn hiệu gắn liền với sự uy tín, danh tiếng của doanh nghiệp, thể hiện được một phần chất lượng của các sản phẩm.
Có thể thấy một trong những hành vi thường gặp nhất hiện nay là giả mạo NHHH, hành vi này xâm phạm đến quyền SHCN đối với nhãn hiệu được bảo luật bảo vệ. Khi cá nhân hay tổ chức, tập thể thực hiện các hành vi ảnh hưởng quyền SHCN liên quan và đến nhãn hiệu tức là họ đã chủ động và ý thức việc lựa chọn những xử sự không đúng với quy định cũng như mong muốn của nhà lập pháp, quy định trong các văn bản của pháp luật, từ đó cá nhân, tổ chức hay tập thể nhóm chủ thể đó phải có trách nhiệm đối với hành vi đó, đồng thời chịu trách nhiệm đối với các vi phạm đó. “Hành vi giả mạo NHHH là một trong những hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, pháp luật cũng quy định khá đầy đủ các căn cứ để xác định các hành vi xâm phạm”19. Căn cứ tại Điều 77 Nghị định số 65/2023/NĐ-CP quy định về các yếu tố xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu cần lưu ý xác định hành vi xâm phạm quyền SHCN dựa trong phạm vi bảo hộ (mẫu mã, danh mục hàng hóa/dịch vụ) theo Giấy chứng nhận đăng ký (trong nước hoặc quốc tế) được công nhận tại Việt Nam.
Việc so sánh các dấu hiệu của nhãn hiệu là bước quan trọng để xác định vi phạm quyền SHTT. Trong quá trình so sánh, cần tập trung vào nguy cơ nhầm lẫn hoặc không phân biệt được giữa các dấu hiệu đang nghi ngờ với nhãn hiệu đang được bảo hộ. Căn cứ theo Điều 77 Nghị định số 65/2023/NĐ-CP:“Dấu hiệu bị nghi ngờ trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu thuộc phạm vi bảo hộ; trong đó một dấu hiệu bị coi là trùng với nhãn hiệu thuộc phạm vi bảo hộ nếu có cùng cấu tạo và cách thức thể hiện; một dấu hiệu bị coi là tương tự đến mức gây nhầm lẫn với 19 Nguyễn Thị Hậu (2023), “Hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ bao gồm những hàng hóa nào? Những hành vi liên quan đến NHHH giả mạo về SHTT bị xử phạt VPHC?”, https://thuvienphapluat.vn/phap-luat/hang- hoa-gia-mao-ve-so-huu-tri-tue-bao-gom-nhung-hang-hoa-nao-nhung-hanh-vi-nao-lien-quan-den-hang-- 733038-126927. 16 nhãn hiệu thuộc phạm vi bảo hộ nếu có một số thành phần hoàn toàn trùng nhau hoặc tương tự đến mức không dễ dàng phân biệt với nhau về cấu tạo, cách phát âm, phiên âm, ý nghĩa, cách trình bày, màu sắc đối với dấu hiệu nhìn thấy được, nhạc điệu, âm điệu đối với dấu hiệu âm thanh và việc sử dụng dấu hiệu có khả năng gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu …20” để gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng.
Khi hàng hóa dịch vụ mang dấu hiệu trùng hoặc tương tự có thể gây hiểu lầm cũng như sai lệch về bản chất thuộc phạm vi bảo hộ thì cũng được xem là một dấu hiệu vi phạm nhãn hiệu. Hành vi vi phạm SHTT đối với nhãn hiệu gây ảnh hưởng tiêu cực đến xã hội, người tiêu dùng và nhà nước. Đầu tiên là tác động trực tiếp tới chủ thể có quyền bị xâm phạm trực tiếp, làm ảnh hưởng đến uy tín, lòng tin của người sử dụng hàng hóa; tiếp theo đến ảnh hưởng trực tiếp đến nhà nước, gây thất thu nguồn thuế , xã hội mất đi của cải vật chất bởi các hành vi sản xuất, kinh doanh bất hợp pháp; và cuối cùng là gây ảnh hưởng đến người tiêu dùng, chính họ sẽ bị thiệt hại từ việc mua và sử dụng hàng hóa giả mạo nhãn hiệu, sức khỏe bị ảnh hưởng thậm chí liên quan đến tính mạng nếu sử dụng sản phẩm không đảm bảo chất lượng. Do đó, cần lên án và xử lý nghiêm minh những hành vi này để bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu, bảo vệ lợi ích của xã hội nói chung cũng như tạo ra môi trường lành mạnh cho các doanh nghiệp cũng như cá nhân tiêu dùng, đồng thời các chủ thể có các nhãn hiệu cần được bảo vệ.
Cơ quan chức năng cần căn cứ vào tính chất, cũng như thiệt hại xảy ra liên quan đến nhãn hiệu, các thiệt hại có thể xảy ra liên quan đến hành vi vi phạm đó. Khái niệm về hành vi giả mạo NHHH là căn cứ để xác định các hành vi này trên thực tế, từ đó có căn cứ để xử lý các hành vi theo quy định.2 Khái niệm hàng hóa giả mạo nhãn hiệu Hành vi giả mạo NHHH trực tiếp tạo ra hàng hóa giả mạo nhãn hiệu, PL Việt Nam quy định về hàng hóa giả mạo NHHH tại Khoản 2 Điều 213 Luật SHTT: “Hàng hóa giả mạo nhãn hiệu là hàng hóa, bao bì của hàng hóa có gắn nhãn hiệu, dấu hiệu 20 Nghị định số 65/2023/NĐ-CP ngày 23/08/2023 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật SHTT về sở hữu công nghiệp, bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và quản lý nhà nước về SHTT. 17 trùng hoặc khó phân biệt với nhãn hiệu, CDĐL đang được bảo hộ dùng cho chính mặt hàng đó mà không được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc của tổ chức quản lý CDĐL. Có thể thấy khái niệm về hàng hóa giả mạo nhãn hiệu chưa thực sự tương thích với các cam kết trong các Hiệp định mà Việt Nam là thành viên như Hiệp định CPTPP và Hiệp định EVFTA.
Khái niệm về hàng hóa giả mạo góp phần đưa quy định của pháp luật Việt Nam tiếp cận với các quy định của pháp luật thế giới, chúng ta có thể điều chỉnh thuật ngữ “tương tự đến mức khó phân biệt” thay thế cụm từ “khó phân biệt” để phù hợp với việc đánh giá khả năng phân biệt của nhãn hiệu và từ đó dễ dàng hơn trong việc xác định hành vi vi phạm. Căn cứ xác định một hành vi được cho là giả mạo nhãn hiệu khi có đầy đủ các dấu hiệu như: đầu tiên đối tượng đó phải là đối tượng đang được bảo hộ bằng các tài liệu, chứng cứ xác thực chứng minh và xác lập quyền theo quy định tại Luật SHTT, Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hoặc Giấy xác nhận nhãn hiệu đăng ký quốc tế được bảo hộ tại Việt Nam hoặc bản trích lục sổ đăng ký quốc gia về sở hữu công nghiệp22; ngoài ra đối với nhãn hiệu nổi tiếng còn được thể hiện trên cơ sở minh chứng sự nổi tiếng của nhãn hiệu đó. Tiếp theo các yếu tố xâm phạm phải đáp ứng yêu cầu xâm phạm đối với nhãn hiệu quy định tại Điều 77 Nghị định 65/2023/NĐ- CP quy định các yếu tố xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu, để xác định một dấu hiệu có phải là hành vi xâm phạm hay không phải đáp ứng cả hai điều kiện23. Người thực hiện hành vi vi phạm không phải là chủ thể có quyền cũng như không phải là đối tượng được pháp luật cho phép thực hiện hành vi đó.
Điều kiện cuối cùng là việc vi phạm này xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam (VN) và nhãn hiệu bị xâm phạm được bảo hộ trên toàn lãnh thổ VN. Từ đó có thể khái quát khái niệm hàng hóa giả mạo nhãn hiệu như sau: “Nhãn hiệu hàng hóa bị giả mạo là sản phẩm, bao bì của hàng hóa có gắn kết nhãn hiệu hoặc dấu hiệu hoặc tem, nhãn chứa các dấu hiệu trùng hoặc giống đến mức khó phân biệt so với nhãn hiệu đã được bảo hộ trước đó dành cho chính loại 21 Khoản 2 Điều 213 Luật SHTT. 22 Điều 13 Thông tư 11/2015/TT-BKHCN được sửa đổi bởi Điểm h Khoản 1 Điều 2 Thông tư 06/2024/TT- BKHCN có hiệu lực từ ngày 15/11/2024. 23 Nghị định số 65/2023/NĐ-CP ngày 23/08/2023 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật SHTT về sở hữu công nghiệp, bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và quản lý nhà nước về SHTT 18 hàng hóa đó mà không được sự cho phép của chủ sở hữu của nhãn hiệu đó.