Chương 1. Những vấn đề lý luận về tội Không chấp hành án theo pháp luật hình sự Việt Nam. Thực tiễn xét xử tội Không chấp hành án và vấn đề hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả xét xử đối với tội Không chấp hành án. Ngoài ra, luận văn còn có lời nói đầu, cam kết của tác giả, danh mục các chữ viết tắt, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, phục lục và kết luận.
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI KHÔNG CHẤP HÀNH ÁN THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Tội không chấp hành án theo Điều 304 Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1999 1. Khái niệm tội Không chấp hành án Theo lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam thì mãi đến khi Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1985 ban hành thì tội Không chấp hành án mới được quy định chính thức trong một văn bản pháp luật hình sự và được quy định chung với tội Cản trở việc thi hành án tại Điều 240. Đến khi BLHS năm 1999 được ban hành và thay thế BLHS năm 1985 thì tội Không chấp hành án được tách ra thành một tội danh độc lập tại Điều 304.
BLHS năm 1985 quy định tội Không chấp hành án tại Khoản 1 Điều 240 như sau: “Người nào cố ý không chấp hành bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mặc dù đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”. Kế thừa Khoản 1 Điều 240 BLHS năm 1985 tại Điều 304 BLHS năm 1999 đã quy định: “Người nào cố ý không chấp hành bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mặc dù đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”. Tuy được tách ra thành một Điều luật độc lập nhưng Điều 304 BLHS năm 1999 cơ bản là vẫn giống với Khoản 1 Điều 240 BLHS năm 1985, theo đó: Khách thể của Khoản 1 Điều 240 BLHS năm 1985 và Điều 304 BLHS năm 1999 đều xâm phạm đến hoạt động bình thường của các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm thi hành án; về hành vi khách quan, Khoản 1 Điều 240 BLHS năm 1985 và Điều 304 BLHS năm 1999 hoàn toàn giống nhau, người phạm 7 tội đều có hành vi cố ý không chấp hành bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mặc dù đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết; về chủ thể, Khoản 1 Điều 240 BLHS năm 1985 và Điều 304 BLHS năm 1999 đều quy định chủ thể là những người có nghĩa vụ phải thi hành các bản án hoặc quyết định của Tòa án; về mặt chủ quan, người thực hiện hành vi phạm tội theo Khoản 1 Điều 240 BLHS năm 1985 và Điều 304 BLHS năm 1999 đều thực hiện với lỗi cố ý; về hình phạt tù, Điều 304 BLHS năm 1999 vẫn giữ nguyên mức phạt tù như Khoản 1 Điều 240 BLHS năm 1985 là sáu tháng đến ba năm. Tuy nhiên giữa Khoản 1 Điều 240 BLHS năm 1985 và Điều 304 BLHS năm 1999 có sự khác nhau về mức hình phạt cải tạo không giam giữ theo hướng nghiêm khắc hơn, theo đó tại Khoản 1 Điều 240 BLHS năm 1985 quy định hình phạt cải tạo không giam giữ chỉ đến một năm, trong khi đó Điều 304 BLHS năm 1999 quy định mức phạt cải tạo không giam giữ lên đến ba năm.
Qua đó, chúng ta thấy rằng, dù theo Khoản 1 Điều 240 BLHS năm 1985 hay Điều 304 BLHS năm 1999 thì vẫn là hành vi cố ý không chấp hành bản án, quyết định của Tòa án khi đã bị các cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết thì mới xem là phạm tội không chấp hành án, nếu chưa bị áp dụng một trong các biện pháp cưỡng chế đó thì không phạm tội này. Theo lời văn của điều luật thì những người phạm tội này thường là người có nghĩa vụ chấp hành các bản án hoặc quyết định của Tòa án trong các vụ án hình sự hoặc là đương sự của vụ án dân sự, thương mại, hôn nhân gia đình… Bản án là văn bản của Tòa án có thẩm quyền, nhân danh Nhà nước tuyên khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm hoặc phúc thẩm xét xử vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân gia đình, kinh tế, lao động, hoặc hành chính. Bản án phải có đầy đủ các nội dung chính như tình tiết vụ việc, nhận định của Hội đồng xét xử, quyết định của Tòa án…để xác định sự thật khách quan, quan hệ pháp luật bị xâm phạm và trách nhiệm, quyền hạn pháp lý của các bên đương sự hoặc bị cáo. Tương tự như vậy quyết định của Tòa án cũng là văn bản của Tòa án trong đó quy định trách nhiệm và quyền lợi của các bên trong các vụ tranh chấp dân sự, hôn nhân gia đình, kinh tế, lao động, hành chính.
8 Trên tài liệu pháp lý hình sự cũng có nhiều tác giả đưa ra khái niệm tội Không chấp hành án như sau: Theo quan điểm của tác gỉa Phạm Thanh Bình và Nguyễn Vạn Nguyên thì “ Không chấp hành án được hiểu là hành vi của người phải thi hành án nhưng đã không chấp hành bản án, quyết định của Tòa án một cách cố ý”1. Theo tác giả Nguyễn Đức Thuận trong một tác phẩm của mình, cho rằng: “ Không chấp hành án là tội phạm của những người cố ý không chấp hành bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật mặc dù đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết”2. Theo giáo trình Luật hình sự Việt Nam của trường Đại học luật Hà Nội thì “ Tội không chấp hành án là hành vi cố ý không chấp hành bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, mặc dù đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết”3. Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng khái niệm về tội Không chấp hành án vẫn có nhiều quan điểm khác nhau.
Đối chiếu quy định tại Điều 304 BLHS năm 1999, khái niệm do tác giả Phạm Thanh Bình và Nguyễn Vạn Nguyên đưa ra theo người viết thì đã nêu lên được hành vi khách quan của tội phạm đó là việc không chấp hành bản án, quyết định của Tòa án một cách cố ý, nhưng khái niệm này còn thiếu điều kiện cơ bản nhất đó là người phạm tội đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết, nghĩa là người nào đó cố ý không chấp hành bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mặc dù đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết thì mới xem là phạm tội không chấp hành án. Tương tự như vậy, khái niệm về tội Không chấp hành án do tác giả Nguyễn Đức Thuận đưa ra theo người viết cũng chưa hợp lý, theo tác giả Nguyễn Đức Thuận thì không chấp hành bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân nhân đã có hiệu lực pháp luật mới bị xem là phạm tội không chấp hành án, điều này hoàn toàn chưa bao hàm hết các trường hợp không 1 Phạm Thanh Bình và Nguyễn Vạn Nguyên ( 1990 ), Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp, Nxb Pháp lý, Hà Nội, tr. 2 Nguyễn Đức Thuận ( 1996 ), TNHS đối với các tội xâm phạm hoạt động tư pháp, Nxb Pháp lý, Hà Nội, tr. 3 Trường Đại học luật Hà Nội (2010),Giáo trình luật hình sự Việt Nam, tập 2, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr.
9 chấp hành án bởi lẽ bản án của Tòa án quân sự nếu không chấp hành vẫn xem là phạm tội không chấp hành án theo Điều 304 BLHS Việt Nam. Quan điểm của tác giả khái niệm về tội Không chấp hành án theo giáo trình Luật hình sự Việt Nam của trường Đại học Luật Hà Nội là tương đối hoàn chỉnh. Nó vừa cụ thể hóa được điều luật, vừa khái quát được bản chất của tội phạm này.Tuy nhiên theo tác giả thì khái niệm tội Không chấp hành án cần phải đầy đủ hơn như sau: Tội không chấp hành án là hành vi của người có điều kiện thi hành nhưng cố ý không chấp hành bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, mặc dù đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết theo quy định của pháp luật. Theo pháp luật hiện hành chỉ những người có điều kiện chấp hành án mà cố ý không chấp hành thì mới bị cưỡng chế thi hành, các biện pháp cưỡng chế cũng được pháp luật quy định tương đối cụ thể cho từng trường hợp, khi tiến hành cưỡng chế cơ quan có thẩm quyền phải áp dụng các biện pháp cưỡng chế đúng theo quy định, không được tùy tiện áp dụng.
Còn những người không có điều kiện chấp hành thì sẽ được giải quyết theo điều luật như: Đình chỉ, trả đơn yêu cầu, hoãn thi hành, miễn, giảm. Do đó chỉ những người nào có điều kiện mà không chấp hành án, mặc dù đã bị áp dụng một trong các biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật mới bị xem là phạm tội không chấp hành án theo Điều 304 BLHS hiện nay. Các dấu hiệu pháp lý của tội Không chấp hành án Nếu xét về bản chất, nội dung chính trị, xã hội và nội dung pháp lý của tội phạm thì tội phạm được xem là hiện tượng xã hội có tính giai cấp và tính lịch sử được đặc trưng bởi tính nguy hiểm cho xã hội và tính trái pháp luật hình sự. Nhưng khi nghiên cứu về mặt cấu trúc, tội phạm có đặc điểm chung là đều được hợp bằng những yếu tố nhất định, tồn tại không tách rời nhau nhưng có thể phân biệt được trong tư duy và do vậy có thể cho phép nghiên cứu độc lập với nhau.
Những yếu tố đó theo khoa học luật hình sự Việt Nam là khách thể, chủ thể, mặt khách quan và mặt chủ quan của tội phạm. 10 Theo luật hình sự Việt Nam, bất cứ hành vi phạm tội nào, dù ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng, dù bị quy định bởi hình phạt tới chung thân, tử hình hay chỉ là cảnh cáo, phạt tiền cũng đều là thể thống nhất giữa mặt khách quan và mặt chủ quan - giữa những biểu hiện bên ngoài và những quan hệ tâm lí bên trong, đều là hoạt động của con người cụ thể, xâm hại hoặc nhằm xâm hại những quan hệ xã hội nhất định. Sự thống nhất của bốn yếu tố này là hình thức cấu trúc, thể hiện đầy đủ nội dung chính trị, xã hội của tội phạm.