CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG TY HỢP DANH VÀ PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TY HỢP DANH 1. KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY HỢP DANH 1. Lịch sử ra đời và phát triển của công ty hợp danh Trải qua hàng trăm năm lịch sử hình thành, công ty hợp danh đến nay vẫn không ngừng phát triển. Theo thời gian, công ty hợp danh đã và đang để lại dấu ấn trên phạm vi nhiều quốc gia.
Thực tiễn kinh doanh cho thấy, đây là hình thức kinh doanh đáp ứng được nhiều đòi hỏi của thị trường và luôn gần gũi với tầng lớp thương nhân. Sự ra đời và phát triển của công ty hợp danh trên thế giới Để thích ứng được với sự đòi hỏi của nền kinh tế ngày càng lớn mạnh, những thị trường sản xuất rộng lớn, các thương nhân bắt đầu từ việc kinh doanh nhỏ lẻ, manh mún của từng cá nhân dần chuyển sang tìm kiếm sự liên kết kinh doanh với nhiều người. Sự liên kết vừa đáp ứng được nhu cầu phát triển thông qua việc huy động được nguồn vốn lớn đồng thời chia sẻ, phân tán rủi ro. Ban đầu là những lựa chọn liên kết, hợp tác đơn giản từ thương nhân, các nhà đầu tư quen biết nhau có sự tin cậy về mặt tâm lý cùng kinh doanh.
Do đó, công ty đối nhân - loại hình công ty đầu tiên ra đời trên thế giới được thành lập dựa trên sự liên kết chặt chẽ bởi chế độ tín nhiệm giữa các thành viên và yếu tố con người giữ vai trò chủ đạo. Công ty hợp danh ra đời cũng xuất phát từ đòi hỏi phải mở rộng quy mô kinh doanh và là một loại hình đặc trưng của công ty đối nhân [34, tr. Công ty hợp danh là một trong những hình thức được ra đời sớm nhất trong hệ thống hình thành và phát triển của loại hình doanh nghiệp công ty. Các tài liệu lịch sử đã cho thấy trong lịch sử loài người, những quy định, chỉ dẫn đầu tiên về hợp danh theo nghĩa rộng xuất hiện từ thời Babylon, khoảng năm 2300 trước Công nguyên trong Bộ luật Hammurabi hay thế kỷ thứ VI của đế chế La Mã cổ đại khái niệm CTHD cũng góp mặt trong Bộ luật Justinian.
Với Hammurabi, thuật ngữ shutolin chỉ một hình thức hợp danh phi thương mại có từ những năm 2000 trước Công nguyên và sau đó hợp danh mang tính chất 9 thương mại được hình thành từ những đoàn hội buôn của người Do Thái [43, tr. Còn trong Justinian có những quy định mang tính mới mẻ hơn, về hợp danh mang sự tương đồng với luật hiện đại bởi những quy định về đại diện thời đó được coi là thành tố cốt lõi, nền tảng hình thành các quy định pháp luật về hợp danh hiện nay [43, tr. Tại châu Á và các nước Phương Tây, sự liên kết của người buôn qua phường, hội, tập quán thương mại của các thương nhân là cơ sở nhen nhóm hình thành các hình thức hợp danh khác nhau. Các thuật ngữ như societe en common dits, societas được người Pháp dùng để chỉ các hình thức hợp danh, trong đó: societe en common dite có sự tham gia của cả hai loại thành viên hợp danh và góp vốn, còn societas được dùng để chỉ hình thức hợp danh chỉ có sự tham gia của các thành viên hợp danh [21, tr.
Sau này, đến thời kì Trung đại, CTHD dần phát triển vượt ra khỏi biên giới các quốc gia. Ở Thụy Điển vào cuối thế kỷ XVII, mô hình hợp danh được hình thành rõ ràng hơn. Pháp luật về CTHD theo hệ thống luật thông lệ của Anh được bắt đầu áp dụng ở Mỹ sau khi Mỹ giành được độc lập vào năm 1776. Cho đến đầu thế kỷ XIX, CTHD nhận được nhiều sự ưu ái từ các nhà đầu tư và dần khẳng định vị trí quan trọng nhất trong các loại hình kinh doanh ở Mỹ.
Cho đến nay, cùng sự phát triển không ngừng của CTHD, để đáp ứng những đòi hỏi từ thị trường, khung pháp luật cũng có sự thay đổi, hoàn thiện nhất định thông qua việc sử dụng Luật thống nhất về CTHD thay thế cho thông lệ điều chỉnh và văn bản pháp lý mới này cũng dựa trên nền tảng các nguyên tắc đại diện. Sự ra đời và phát triển của công ty hợp danh ở Việt Nam (a)Thời kỳ trước năm 1986 Theo các nhà nghiên cứu thì công ty hợp danh là loại công ty hình thành sớm nhất trên thế giới [25, tr. Tuy nhiên tại Việt Nam thì ngược lại, CTHD ra đời khá muộn. Song điều này hoàn toàn phù hợp bởi tình hình kinh tế nước ta vốn là một nước nông nghiệp, sự xuất hiện hoạt động thương mại còn thưa thớt, không chú trọng.
Lúc này, cơ chế quản lý kinh tế tập trung bao cấp, giới hạn hoạt động trong 10 hai thành phần kinh tế nhà nước và tập thể. Các chế định quản lý nền kinh tế được nhà nước thực hiện bằng mệnh lệnh hành chính thông qua các chỉ tiêu pháp lệnh áp đặt từ trên xuống do đó kinh tế tư nhân cũng không được chú ý khai thác phát triển. CTHD bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam cùng quá trình xâm lược của thực dân Pháp [23, tr. Đến cuối thế kỷ XIX, các mô hình công ty bắt đầu xuất hiện tại Việt Nam dưới sự cai quản của Pháp.
Ở thời kỳ này, Pháp đã cùng lúc áp dụng hệ thống pháp luật của Pháp ở Việt Nam thông qua các bộ luật dân sự và thương mại như một sự cấy ghép pháp luật cưỡng bức trong điều kiện bóc lột của kẻ xâm lược. Bắt đầu từ đây, các hình thức kinh doanh được thừa nhận, cùng với khái niệm công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân, khái niệm công ty hợp danh đã xuất hiện. Những tên gọi khác nhau gắn với từng mô hình công ty như: hội buôn, hội vốn, hội người hay hội đồng lợi,. đã được thể hiện qua ba bộ dân luật: Dân luật Bắc Kỳ, Dân luật Trung Kỳ và Dân luật Nam Kỳ nhằm phân tách với các hội không kinh doanh thương mại.
Trong “Dân luật thi hành tại các tòa Nam án Bắc Kỳ” năm 1931, “hội người” là tên gọi của CTHD được chia làm hai loại bao gồm “hội hợp danh” và “hội hợp tư” [37, tr. Theo đó, hội người là hình thức công ty đặt yếu tố nhân thân, con người là quan trọng nhất, đây cũng là bản chất của công ty đối nhân. Năm 1954, miền Bắc giải phóng thực hiện công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa tiếp tục giữ vững vai trò chủ đạo của nền kinh tế quốc doanh, không thừa nhận thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, do đó pháp luật về CTHD thời kỳ này không tồn tại. Ở miền Nam Việt Nam 1975, Bộ luật thương mại Sài Gòn có hiệu lực, ghi nhận tên chính thức là công ty hợp danh.
Theo quy định của luật này, CTHD được thành lập giữa hai người, hay một số người nhằm mục đích hoạt động thương mại dưới một hội danh. Sau khi thống nhất, Nhà nước tiếp tục thực hiện chủ trương phát triển nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung. Với việc không công nhận sở hữu tư nhân, cùng trình độ sản xuất kém cả về chất và lượng đã làm vô hình sự tồn tại của các loại hình công ty theo đúng nghĩa ở Việt Nam. (b) Giai đoạn từ năm 1986 đến nay 11 Năm 1986, đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI và Nghị quyết Hội nghị lần thứ II Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định chủ trương phát triển kinh tế mới của đất nước phù hợp với quy luật của thị trường.
Theo đó, xóa dần cơ chế quản lý kinh tế cũ, công nhận sự tồn tại của các thành phần kinh tế cá thể và tư doanh. Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty ra đời năm 1990 đánh dấu bước ngoặt phát triển của hoạt động thương mại. Cụ thể pháp luật chính thức ghi nhận ba hình thức kinh doanh của khu vực kinh tế tư nhân là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn và doanh nghiệp tư nhân. Tuy nhiên, trong những năm đầu đổi mới, các quy định pháp luật còn nhiều hạn chế, mang tính sơ khai, và chưa có quy định về loại hình CTHD.
Trước những bất cập của các văn bản luật trước đó, ngày 12 tháng 6 năm 1999 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật Doanh nghiệp 1999 nhằm từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế. Luật Doanh nghiệp 1999 ra đời, với sự cải tiến vượt bậc về chất lượng bằng việc lần đầu tiên ghi nhận chính thức các quy định về mô hình CTHD và Công ty TNHH một thành viên. Tuy nhiên, trước tình hình kinh tế phát triển đa dạng và ngày càng đổi mới thì với bốn điều luật (từ điều 95 đến điều 98) quy định cho một loại hình doanh nghiệp là chưa đủ. Khung pháp lý cho CTHD chưa thật sự bền vững, an toàn, vì vậy đây cũng là lí do khiến CTHD chưa thể là một sự lựa chọn hấp dẫn cho các thương nhân.
Với những tồn tại khác của Luật Doanh nghiệp 1999, ngày 29 tháng 11 năm 2005 Quốc hội đã thông qua Luật Doanh nghiệp 2005, thay thế cho văn bản pháp luật trên. Luật Doanh nghiệp 2005 đã từng bước tạo cho CTHD một chỗ đứng vững vàng hơn trong môi trường pháp lý, nâng lên với mười điều khoản quy định chi tiết rõ ràng hơn về chế độ, cơ cấu hay cách thức hoạt động của CTHD, phù hợp với tình hình kinh tế đất nước. Mặc dù vậy, trên thực tế vẫn cho thấy số lượng các CTHD được thành lập tại Việt Nam là rất ít, những quy định dường như vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn, chưa phát huy được hết những điểm mạnh vốn có của loại hình này. Luật Doanh nghiệp 2005 tiếp tục được sửa đổi, bổ sung bởi Luật Doanh 12 nghiệp 2014, tháo gỡ những hạn chế, bất cập của luật cũ, đánh dấu những quy định mới nhằm tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi.
Hiện nay, với sự ra đời của Luật Doanh nghiệp 2020 có hiệu lực ngày 01 tháng 01 năm 2021, mang nhiều thay đổi mới về hoạt động của các loại hình kinh doanh nói chung và công ty hợp danh nói riêng. Trong đó, các quy định về hợp danh được cụ thể hóa thành 11 điều khoản (từ điều 177 đến điều 187), có sự cải cách thủ tục hành chính, bảo vệ lợi ích nhà đầu tư, dễ dàng hơn trong hoạt động tổ chức lại công ty,. đã gián tiếp thúc đẩy quá trình mở rộng phát triển CTHD tại Việt Nam. Khái niệm công ty hợp danh 1.