Chương 1: Một số vấn đề chung về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Chương 2: Thực tiễn áp dụng và kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong luật hình sự Việt Nam. “Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo luật hình sự Việt Nam” là một đề tài lớn, có nhiều vấn đề phức tạp cần phải nghiên cứu. Trong khuôn khổ một bài luận văn tốt nghiệp thạc sĩ, với vốn kiến thức và kinh nghiệm công tác còn hạn chế, tác giả không có tham vọng giải quyết thật thấu đáo, triệt để tất cả các vấn đề mà chỉ mong có thể góp một phần công sức vào quá trình nghiên cứu và hoàn thiện các quy định của pháp luật về tội CYGTT hoặc GTH cho sức khỏe của người khác.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƢƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƢỜI KHÁC 1. Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội cố ý gây thƣơng tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ngƣời khác 1. K á n ệm của tộ cố ý ây t ơn tíc oặc ây tổn ạ c o s c k ỏe của n ờ k ác Quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về thân thể là một trong những quyền cơ bản của con người. Chỉ khi tính mạng và sức khỏe được Nhà nước và pháp luật bảo vệ thì con người mới có thể an tâm học tập, lao động và xây dựng đất nước.
Vì sức khỏe của con người là vô giá nên quyền được bảo hộ về sức khỏe rất được quan tâm và bảo vệ ở nhiều cấp độ, từ các điều ước quốc tế cho đến pháp luật quốc gia. Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948 của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc là văn kiện pháp lí chính thức ghi nhận các quyền cơ bản của con người, trong đó có quyền được an toàn về thân thể và bảo hộ sức khỏe. Đây là một trong những quyền đầu tiên được ghi nhận trong Tuyên ngôn, Điều 3 Tuyên ngôn quy định: “Ai cũng có quyền được sống, tự do và an toàn thân thể”. bình diện quốc gia, vì là một trong những quyền cơ bản và quan trọng nhất của con người nên pháp luật các nước đều có quy định để bảo vệ quyền được bảo hộ về sức khỏe.
Tại Việt Nam, sự bảo hộ sức khỏe trước tiên được ghi nhận trong Hiến pháp. Điều 20 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân ph m”. Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, quyền được bảo hộ về sức khỏe tiếp tục được bảo đảm bằng các ngành luật dân sự, hành chính và hình sự. Trong đó, luật hình sự là ngành luật điều chỉnh mang tính nghiêm khắc nhất đối với những hành vi xâm phạm đến sức khỏe của con người.
Cụ thể, BLHS năm 2015 đã xây dựng nhiều quy định nhằm xử lí các hành vi xâm hại đến sức khỏe của con người, trong đó có quy định về tội CYGTT hoặc GTH cho sức khỏe của người khác. Hiện nay, BLHS năm 2015 không có quy định nào đề cập đến khái niệm pháp lí của tội CYGTT hoặc GTH cho sức khỏe của người khác. Theo Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học, các từ ngữ trong tên tội danh CYGTT hoặc GTH cho sức khỏe của người khác được hiểu như sau: “Cố ý” có nghĩa là có ý định sẵn từ trước và thực hiện ý định đó1; “ ây” có nghĩa là làm cho nảy sinh, phát ra2; “Thương tích” là dấu vết để lại trên thân thể do bị thương3; “Tổn hại” là làm mất mát, hư hại lớn4; “Sức khỏe” nghĩa là sức mạnh của thân thể do không có bệnh tật gì5. 1 Viện ngôn ngữ học (2006), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, trang 205.
2 Viện ngôn ngữ học, tlđd (1), trang 377. 3 Viện ngôn ngữ học, tlđd (1), trang 976. 4 Viện ngôn ngữ học, tlđd (1), trang 1012. 5 Nguyễn Lân (2004), Từ điển từ và ngữ Việt Nam, Nxb TP Hồ Chí Minh, trang 1610.
9 Còn theo Từ điển luật học của Bộ Tư pháp thì “cố ý gây thương tích” là hành vi cố ý xâm phạm thân thể, gây tổn hại cho sức khỏe người khác dưới dạng thương tích cụ thể6. Trong 3450 thuật ngữ pháp lí phổ thông của tác giả Nguyễn Ngọc Điệp, “gây tổn hại cho sức khỏe của người khác” được hiểu là hành vi dùng thủ đoạn tác động vào cơ thể nạn nhân làm mất hoặc giảm chức năng các bộ phận (cơ quan) trên cơ thể nạn nhân7. Như vậy, dựa vào các giải thích trên và trên cơ sở khái niệm tội phạm được quy định tại Điều 8 BLHS năm 2015 “tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái PLHS và phải chịu hình phạt”, chúng ta có thể đưa ra khái niệm về tội CYGTT hoặc GTH cho sức khỏe của người khác như sau: “Tội CY TT hoặc TH cho sức khỏe của người khác là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực TNHS thực hiện một cách cố ý, tác động trái pháp luật đến thân thể của người khác nhằm gây thiệt hại về sức khỏe cho người đó dưới dạng thương tích hoặc sự mất, suy giảm chức năng của các cơ quan, bộ phận trên cơ thể nạn nhân”. Các dấu ệu p áp lý của tộ cố ý ây t ơn tíc oặc ây tổn ạ c o s c k ỏe của n ờ k ác Theo quy định tại Điều 134 BLHS năm 2015, tội CYGTT hoặc GTH cho sức khỏe của người khác được quy định như sau: “1.
Người nào CY TT hoặc TH cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: a Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người; b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm; c Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ; d Đối với ông, bà, cha, mẹ, th y giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình; đ Có tổ chức; e Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; g Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; h Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê; i Có tính chất côn đồ; k Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân. 6 Bộ Tư pháp – Viện khoa học pháp lí (2006), Từ điển luật học, Nxb Tư pháp, trang 172. 7 Nguyễn Ngọc Điệp (2009), 3450 thuật ngữ pháp lý phổ thông, Nxb Giao thông vận tải, trang 59. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm: a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%; b ây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30%; c Phạm tội 02 l n trở lên; d Tái phạm nguy hiểm; đ ây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm: a ây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 Điều này; b ây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%; c ây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này; d ây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 14 năm: a Làm chết người; b ây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; c ây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên; d ây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này; đ ây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân: a Làm chết 02 người trở lên; b ây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.