CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ VẬN ĐƠN ĐIỆN TỬ ĐƯỜNG BIỂN VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ 1.1 Khái quát về vận đơn và vận đơn điện tử đường biển 1. Khái niệm vận đơn đường biển Trước thế kỷ XI, các quốc gia không sử dụng hồ sơ hoặc tài liệu khi vận chuyển hàng hóa, bởi tại thời điểm đó thương nhân cũng là chủ của con tàu, hoặc đi cùng hàng hóa của họ trên biển cho đến khi hàng hóa được bán. Đến thế kỷ XVI, vận đơn bắt đầu xuất hiện và được sử dụng phổ biến. Những vận đơn “sơ khai” chỉ thể hiện tình trạng của hàng hóa.
Chúng thường được tìm thấy nhiều nhất trong các hóa đơn vận chuyển hàng hóa từ Tây Ban Nha hoặc hàng hóa của người Tây Ban Nha. Vào năm 1549, những thông tin được thể hiện trên vận đơn đã chi tiết hơn, thể hiện số lượng, khối lượng hàng hóa, tình trạng chi tiết của hàng hóa trên tàu. Đến năm 1802, các thương nhân đã thiết lập một số nguyên tắc quản lý vận đơn. Pháp lệnh Hàng hải của Louis XIV được ban hành và thực hiện tại thời điểm đó.
Theo đó, các điều khoản xác nhận tình trạng của hàng hóa đã không còn tùy nghi; tất cả các hóa đơn được yêu cầu phải "có chất lượng, số lượng và nhãn hiệu của hàng hóa.” Sắc lệnh cũng ghi nhận rằng cần phải giới hạn trách nhiệm pháp lý của thuyền trưởng đã ký vận đơn.1 Hiện nay, đa số hàng hóa trong giao dịch thương mại quốc tế được vận chuyển bằng phương thức vận tải đường biển, vận đơn cũng vì thế chiếm một tỷ trọng rất lớn trong tổng số chứng từ vận tải đang được sử dụng. Với lịch sử hình thành và nguồn gốc xuất xứ, có thể nhận định rằng vận đơn đường biển (Ocean bill of lading) bản chất là một hóa đơn vận chuyển hàng hóa bằng đường biển. Theo định nghĩa của từ điển Oxford, vận đơn là “một danh sách cung cấp thông tin chi tiết về hàng hóa mà một con tàu,… đang vận chuyển”.2 Trải qua nhiều giai đoạn lịch 1 Daniel E. Murray (1983), History and development of Bill of lading, University of Miami Law Review vol.37’ 2 Oxford Advanced Learner’s Dictionary, 1992 8 sử thế giới cùng với sự phát triển của thương mại quốc tế, vận đơn dần được ghi nhận trong các văn bản pháp luật quốc tế.
Cụ thể, vận đơn được đề cập lần đầu tiên trên phương diện toàn cầu tại Công ước quốc tế để thống nhất một số quy tắc về vận đơn đường biển được ký tại Brussel ngày 25 tháng 8 năm 1924 (thường được gọi là Quy tắc Hague). Tuy nhiên, quy tắc này vẫn chưa nêu ra được khái niệm hay định nghĩa về vận đơn mà chỉ nhận định chung “hợp đồng vận tải được thể hiện bằng vận đơn…” 3 Nối tiếp sau Quy tắc Hague, Công ước Hamburg 1978 ra đời và có sự tiến bộ trong việc ghi nhận khái niệm vận đơn vào các điều khoản. Được hình thành giữa thời điểm thương mại quốc tế đang trên đà phát triển, công ước Hamburg đã định nghĩa vận đơn một cách chính xác, phù hợp hơn với thực tiễn. Cụ thể, tại Khoản 7 Điều 1 Công ước có quy định: “Vận đơn đường biển là một chứng từ làm bằng chứng cho một hợp đồng chuyên chở bằng đường biển và cho việc người vận chuyển đã nhận hàng để chở hoặc để xếp hàng xuống tàu và bằng vận đơn này người chuyên chở cam kết sẽ giao hàng khi xuất trình nó.
Một điều khoản trong chứng từ này quy định rằng lô hàng phải được giao theo lệnh của người được ghi đích danh hoặc giao theo lệnh hoặc giao cho người nắm giữ vận đơn chính là thực hiện cam kết đó.”4 Qua định nghĩa của công ước Hamburg 1978, vận đơn được nhìn nhận là bằng chứng của hợp đồng chuyên chở, đồng thời, cũng là công cụ hỗ trợ trong việc giao nhận hàng hóa giữa nhà chuyên chở và nhà nhập khẩu. Định nghĩa này đã góp phần làm rõ khái niệm “vận đơn” trong thương mại quốc tế nói chung và ngành hàng hải nói riêng. Từ đó, tạo tiền đề cho các quốc gia trên thế giới nội luật hóa vận đơn trong ngành hàng hải nội địa. Kế thừa tinh thần và kinh nghiệm từ các quy định quốc tế, Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2015 cũng đã ghi nhận khái niệm vận đơn như sau: 3 Điều 1 (b) Quy tắc Hague 4 Khoản 7 Điều 1 Công ước Hamburg 1978 9 “Vận đơn là chứng từ vận chuyển làm bằng chứng về việc người vận chuyển đã nhận hàng hóa với số lượng, chủng loại, tình trạng như được ghi trong vận đơn để vận chuyển đến nơi trả hàng; bằng chứng về sở hữu hàng hóa dùng để định đoạt, nhận hàng và là bằng chứng của hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển.”5 Quy định này của Việt Nam không chỉ đưa ra định nghĩa mà còn lồng ghép vào đó vai trò của chính vận đơn.
Có thể thấy, quy định này không định nghĩa một cách khái quát vận đơn là gì mà thông qua vai trò, cơ chế của vận đơn để làm rõ khái niệm vận đơn nhằm phân biệt vận đơn với những chứng từ vận tải khác trong bộ chứng từ hàng hóa. Như vậy, dựa trên bản chất và các định nghĩa trên, vận đơn được xem là một chứng từ chuyên chở hàng hóa bằng đường biển do người chuyên chở hoặc đại diện người chuyên chở cấp phát cho người gửi hàng hóa sau khi đã nhận hàng để xếp xuống tàu hoặc sau khi hàng hóa đã được xếp xuống tàu, và bằng chứng từ này người chuyên chở cam kết sẽ giao hàng cho người nhận sau khi xuất trình tại cảng dỡ. Cơ chế hoạt động của vận đơn đường biển Về cơ bản, vận đơn được xem là một hóa đơn vận chuyển hàng hóa bằng đường biển. Do đó, vận đơn cũng có tính chất khá tương đồng với những loại hóa đơn vận chuyển hàng hóa bằng các phương thức khác.
Một cách khái quát thì vận đơn sẽ được người vận chuyển phát hành để xác nhận tình trạng hàng hóa cũng như một số thông tin thiết yếu liên quan đến việc vận chuyển hàng hóa khi nhà vận chuyển nhận từ chủ hàng; đồng thời, người mua hàng sẽ xuất trình vận đơn để chứng minh quyền sở hữu và nhận hàng tại cảng dỡ. Khi các bên (nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu) thực hiện một hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, các bên sẽ thực hiện các thủ tục của hợp đồng. Sau khi nhà nhập khẩu phát hành thư tín dụng (Letter of Credit – L/C) cho nhà xuất khẩu và hoàn thành các quy 5 Khoản 2 Điều 148 Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2015. 10 trình chứng từ nhất định, nhà xuất khẩu sẽ gửi hàng tới cảng của quốc gia nơi nhà nhập khẩu yêu cầu thông qua đại lý vận chuyển của nhà xuất khẩu.
Nhà chuyên chở (hãng tàu) sẽ phát hành hai bộ chứng từ bao gồm một vận đơn gốc và một bản sao của vận đơn. Trong đó, vận đơn gốc sẽ được chủ tàu ký và gửi lại cho đại lý vận chuyển của chủ hàng. Ngay khi đại lý vận chuyển của nhà xuất khẩu nhận được vận đơn gốc đã được ký, hàng hóa sẽ được vận chuyển đến cảng của nhà nhập khẩu. Đồng thời, đại lý vận chuyển của nhà xuất khẩu sẽ chuyển vận đơn tới nhà nhập khẩu để nhà nhập khẩu chuyển cho nhà xuất khẩu.
Sau khi nhận được vận đơn gốc, nhà nhập khẩu sẽ lập tức chuyển cho đại lý vận chuyển của mình. Đại lý vận chuyển của nhà nhập khẩu sau đó sẽ phát hành Lệnh giao hàng (Delivery order) và nhận hàng hóa tại cảng dỡ. Cuối cùng, đại lý của nhà nhập khẩu sẽ giao hàng hóa vừa nhận tại cảng dỡ tới địa điểm nhà nhập khẩu yêu cầu. Chức năng của vận đơn đường biển Vận đơn được sử dụng như một căn cứ pháp lý điều chỉnh mối quan hệ giữa người gửi, người nhận và người chuyên chở.
Đây cũng chính là cơ sở cho việc khai báo hải quan, giao nhận hàng hóa. Song, vận đơn giữ vai trò quan trọng bởi nó là chứng từ được sử dụng trong việc thanh toán giá trị hàng hóa giữa các bên và cũng là tài liệu quan trọng để yêu cầu bồi thường trong những trường hợp xảy ra thiệt hại về hàng hóa trong quá trình vận chuyển. Vận đơn có khá nhiều công dụng; ở mỗi một giai đoạn khác nhau trong quá trình giao thương, vận đơn lại thực hiện một chức năng để phát huy công dụng mà các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế hướng tới. Nhìn chung, vận đơn có ba chức năng chính: (i) Là bằng chứng của hợp đồng vận chuyển: Đa số thường nhầm lẫn rằng vận đơn là bằng chứng của hợp đồng mua bán giữa người gửi hàng (người bán) và người mua.
Cũng không ít người xem vận đơn là hợp đồng vận chuyển hàng hóa giữa người vận chuyển và người thuê vận chuyển (chủ hàng hay đại lý vận chuyển của chủ hàng). Trên thực tế, sau khi đại lý vận chuyển của chủ hàng giao hàng cho bên vận chuyển, bên 11 công ty vận chuyển sẽ lập và ký phát một biên nhận để vận chuyển hàng hóa (vận đơn). Biên nhận này được xem là chứng cứ chứng minh việc giao nhận hàng hóa giữa người gửi hàng và công ty vận chuyển. Như vậy, cần lưu ý rằng, vận đơn chỉ có chức năng là giấy biên nhận, là bằng chứng chỉ ra rằng có tồn tại một hợp đồng vận chuyển giữa người vận chuyển và người gửi hàng để thực hiện việc vận chuyển theo hợp đồng mua bán.
Từ đó, có thể khẳng định, vận đơn và hợp đồng thuê vận chuyển là hoàn toàn độc lập. Vì vậy, bên mua hàng (người hưởng lợi) sẽ không chịu ràng buộc bởi những điều khoản trong hợp đồng vận chuyển. Tương tự, trong trường hợp vận đơn được người thuê vận chuyển chuyển nhượng sang một chủ thể mới thì người nhận chuyển nhượng cũng sẽ không bị ràng buộc bởi các quy định về quyền và nghĩa vụ có trong hợp đồng thuê vận chuyển, trừ trường hợp trong vận đơn quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên sở hữu vận đơn bị ràng buộc bởi hợp đồng. Trường hợp trên, sau khi chuyển nhượng, vận đơn sẽ là căn cứ pháp lý để giải quyết những vấn đề phát sinh giữa công ty vận chuyển và chủ sở hữu vận đơn.
(ii) Là biên nhận hàng hóa: Vận đơn thường được thể hiện dưới dạng văn bản, nội dung của vận đơn thường bao gồm những thông tin cơ bản miêu tả về hàng hóa như: điều kiện, chất lượng, số lượng.