CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA THẨM TRA VIÊN 1. Khái niệm Thẩm tra viên, địa vị pháp lý của Thẩm tra viên 1. Khái niệm Thẩm tra viên Thẩm tra là hoạt động kiểm tra, thẩm định về những nội dung căn bản của một vấn đề nào đó nhằm kết luận về tính hợp pháp, tính đúng đắn và tính khả thi. Thẩm tra là công cụ quan trọng, một nguyên tắc cơ bản trong khâu tìm kiếm, phát hiện, thu thập thông tin.
Thẩm tra là khâu rất quan trọng trong công tác kiểm tra, nhưng phải luôn thực hiện công khai, dân chủ để xem xét, tra cứu, đánh giá, phân tích và sử dụng các chứng cứ nhăm làm bản chất của sự việc và hành vi, nội dung và đối tượng kiểm tra để kết luận nhằm đảm bảo đúng nguyên tắc. Hoạt động thẩm tra được thực hiện các khâu: lập kế hoạch thẩm tra và sử dụng kết quả thẩm tra để kết luận và xử lý nếu có vi phạm theo thẩm quyền được pháp luật quy định. Chức danh thẩm tra viên không những có ở Tòa án mà còn nhiều đơn vị cũng có như: Thi hành án, Viện kiểm sát …… Ở mỗi đơn vị, thẩm tra viên thực hiện những nhiệm vụ khác nhau theo sự phân công của lãnh đạo cơ quan đó. Mặt khác, thẩm tra viên còn được quy định theo mỗi ngành luật khác nhau.
Thẩm tra viên là công chức làm chuyên môn nghiệp vụ về một lĩnh vực nào đó, được bổ nhiệm theo qui định của pháp luật về cán bộ, công chức, có nhiệm vụ giúp thủ trưởng cơ quan thực hiện việc kiểm tra hồ sơ và trả lời các vụ việc khiếu nại, tố cáo kéo dài, tham mưu cho thủ trưởng cơ quan đơn vị các nhiệm vụ khác do thủ trưởng cơ quan đơn vị đó giao. Trong hoạt động của một cơ quan, đơn vị nào đó, Thẩm tra viên có 8 nhiệm vụ giúp thủ trưởng cơ quan đơn vị đó thực nhiệm vụ của mình theo sự phân công của thủ trưởng cơ quan đơn vị đó theo quy định của pháp luật. Về phương diện lý luận và thực tiễn, chức danh Thẩm tra viên hiện nay thực sự là một chức danh còn chưa đủ rõ về vị trí, vai trò, thẩm quyền, chức năng, nhiệm vụ của chức danh Thẩm tra viên trong bộ máy tổ chức của Tòa án nhân dân, nhất là trong quy trình tổ chức một vụ án cụ thể của Tòa án. Thẩm tra viên là công chức chuyên môn, nghiệp vụ về lĩnh vực thẩm tra các vụ án hình sự, dân sự, kinh tế, hành chính hoặc lao động; trực tiếp thực hiện việc thẩm tra các vụ án theo sự phân công của lãnh đạo Toà án, tuân thủ theo pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật và chánh án trực tiếp về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình; nếu có hành vi vi phạm pháp luật thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo qui định của luật.
Theo quy định của Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Thẩm tra viên là công chức chuyên môn của Tòa án đã làm Thư ký Tòa án từ 05 năm trở lên, được đào tạo nghiệp vụ Thẩm tra viên và bổ nhiệm vào ngạch Thẩm tra viên. Thẩm tra viên thực hiện công tác thẩm tra hồ sơ vụ việc mà bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật theo sự phân công của Chánh án, kết luận việc thẩm tra và báo cáo kết quả thẩm tra với Chánh án, thẩm tra về thi hành án giúp chánh án tòa án thực hiện các nhiệm vụ công tác thi hành án thuộc thẩm quyền tòa án và trả lời đơn thư, quyết định kháng nghị của các cơ quan liên quan và thực hiện các nhiệm vụ khác do Chánh án phân công. Thẩm tra viên tuy không phải là người tiến hành tố tụng nhưng là một chức danh cũng rất quan trọng trong hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân, nhất là các tòa chuyên trách của hệ thống Tòa án. Chức danh thẩm tra viên được xác lập kể từ khi có Quyết định số 788 ngày 08/10/1993 của Bộ trưởng, Trưởng ban Tổ chức cán bộ Chính phủ ban hành về tiêu chuẩn nghiệp vụ ở 9 các ngạch công chức thẩm tra viên của ngành tòa án.
Để trở thành Thẩm tra viên phải đáp ứng các tiêu chuẩn sau: * Tiêu chuẩn chính trị, đạo đức, lối sống. - Có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng; trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân. - Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công chức theo quy định của pháp luật; nghiêm túc chấp hành sự phân công nhiệm vụ của cấp trên; tuân thủ pháp luật, giữ vững kỷ luật, kỷ cương, trật tự hành chính; gương mẫu thực hiện nội quy, quy chế của Cơ quan. - Tận tụy, trách nhiệm, liêm khiết, trung thực, khách quan, công tâm và gương mẫu trong thực thi công vụ; lịch sự, văn hóa và chuẩn mực trong giao tiếp, phục vụ nhân dân.
- Có lối sống và sinh hoạt lành mạnh, khiêm tốn, đoàn kết; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; không lợi dụng việc công để mưu cầu lợi ích cá nhân; không quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. - Thường xuyên có ý thức học tập, rèn luyện nâng cao phẩm chất, trình độ, năng lực. - Có đủ sức khỏe để hoàn thành nhiệm vụ được giao. * Tiêu chuẩn về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ.
- Nắm vững đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, chỉ thị, nghị quyết của cấp trên để vận dụng vào công tác thi hành án dân sự, thi hành án hành chính; - Nắm vững các quy định của pháp luật về thi hành án dân sự, thi hành án hành chính, pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo và nghiệp vụ thẩm tra, kiểm tra thi hành án dân sự, nghiệp vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo; 10 - Nắm được tình hình kinh tế, xã hội ở địa phương liên quan đến công tác thi hành án dân sự; - Có năng lực phối hợp với các đơn vị, cá nhân trong quá trình thực hiện nhiệm vụ; - Nắm vững quy trình giải quyết công việc, có kỹ năng soạn thảo văn bản và thuyết trình các vấn đề được giao nghiên cứu, tham mưu; - Công chức được đề nghị bổ nhiệm vào ngạch Thẩm tra viên phải đang giữ ngạch Chuyên viên và tương đương, có thời gian làm công tác pháp luật từ 03 năm (36 tháng) trở lên. * Tiêu chuẩn về trình độ đào tạo, bồi dưỡng. - Có trình độ Cử nhân Luật trở lên; - Có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ ngạch Thẩm tra viên theo nội dung chương trình của Bộ Tư pháp; - Có Chứng chỉ Ngoại ngữ với trình độ tương đương bậc 2 khung năng lực ngoại ngữ Việt Nam theo quy định tại Thông tư số 01/2014/TT-BGDĐT hoặc có chứng chỉ tiếng dân tộc đối với những vị trí yêu cầu sử dụng tiếng dân tộc; - Có chứng chỉ Tin học với trình độ đạt chuẩn kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin cơ bản theo quy định tại Thông tư số 03/2014/TT-BTTTT. Khái niệm địa vị pháp lý của Thẩm tra viên Địa vị pháp lý là tổng thể về các quyền và nghĩa vụ của chủ thể pháp luật, chúng phản ánh về vị trí, vị thế tư cách pháp lý của chủ thể ấy trong các mối quan hệ pháp luật.
Địa vị pháp lý (tư cách pháp lý) của một chủ thể được thể hiện ở vị trí, vai trò của một chủ thể trong quan hệ pháp luật và gắn liền theo nó là quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý phát sinh, ràng buộc, xác định quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể, là căn cứ xem xét và xử lý những mâu thuẫn, xung đột và tranh chấp pháp lý, là căn cứ để thực hiện quyền và nghĩa 11 vụ, trách nhiệm của một tổ chức/ cá nhân trong một mối quan hệ pháp luật xác định. Như vậy, địa vị pháp lý của Thẩm tra viên là tổng thể các quyền và nghĩa vụ của Thẩm tra viên trong các mối quan hệ pháp luật, thể hiện vị trí, vai trò, thẩm quyền, chức trách, nhiệm vụ, quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của Thẩm tra viên khi thực hiện giúp Chánh án Tòa án thẩm tra hồ sơ vụ việc và các nhiệm vụ khác theo quy định pháp luật. Ý nghĩa của việc xác định địa vị pháp lý của Thẩm tra viên là nhằm khẳng định vị trí, vai trò của Thẩm tra viên trong cơ cấu tổ chức của Tòa án nhân dân; việc xác định địa vị pháp lý của thẩm tra viên cũng là căn cứ để xác định trách nhiệm của Thẩm tra viên khi thực hiện nhiệm vụ của mình theo đúng chuẩn mực quy định của pháp luật; nâng cao ý thức thực hiện nhiệm vụ của Thẩm tra viên trong hoạt động của Tòa án nhân dân. Địa vị pháp lý của Thẩm tra viên được hình thành và xây dựng trên cơ sở kết quả hoạt động của Tòa án là trọng tâm, thông qua việc trao quyền, giao nhiệm vụ, tổ chức triển khai và thực hiện nhiệm vụ được giao, kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao.
Theo Khoản 4, Điều 93 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 quy định chi tiết về các quyền và nghĩa vụ của Thẩm tra viên Tòa án như sau: Thứ nhất, thẩm tra hồ sơ các vụ việc mà bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo sự phân công của Chánh án; Thứ hai, kết luận việc thẩm tra và báo cáo kết quả thẩm tra với Chánh án Tòa án; Thứ ba, thẩm tra viên về thi hành án giúp Chánh án Tòa án thực hiện các nhiệm vụ về công tác thi hành án thuộc thẩm quyền của Tòa án; Thứ tư, thực hiện các nhiệm vụ khác theo sụ phân công của Chánh án Tòa án. 12 Cùng với các quyền và nghĩa vụ nêu trên, thẩm tra viên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước Chánh án Tòa án về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Nếu có hành vi phạm pháp căn cứ theo tính chất và mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật/ truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định pháp luật.