Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Pháp luật về thu hồi đất – Thực trạng và giải pháp" được tác giả Nguyễn Thị Anh thực hiện năm 2015 tại Viện Đại học Mở Hà Nội, chuyên ngành Luật Kinh tế, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Thị Nga.
Về bối cảnh thực tiễn, tác giả chỉ ra rằng đất đai là tài nguyên và tư liệu sản xuất đặc biệt, không thể thay thế trong sản xuất nông - lâm nghiệp. Tại Việt Nam, quỹ đất tự nhiên có hơn 33 triệu ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm khoảng 9,4 triệu ha. Quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đặt ra yêu cầu tất yếu phải chuyển đổi một phần diện tích đất nông nghiệp sang xây dựng khu công nghiệp, khu kinh tế, khu đô thị và hạ tầng kỹ thuật. Tuy nhiên, hoạt động thu hồi đất làm nảy sinh nhiều xung đột lợi ích phức tạp giữa Nhà nước, người sử dụng đất và nhà đầu tư. Việc mất đất canh tác đẩy nhiều hộ nông dân vào tình trạng mất sinh kế, thiếu việc làm, đồng thời tạo áp lực lớn lên an ninh lương thực quốc gia khi mỗi năm cả nước mất khoảng 7.000 ha đất trồng lúa. Theo đánh giá của Thanh tra Chính phủ được trích dẫn trong văn bản, khiếu kiện liên quan đến bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất chiếm khoảng 70% tổng số các vụ việc khiếu kiện về đất đai. Thực tiễn này đòi hỏi phải đánh giá toàn diện các quy định pháp luật hiện hành, đặc biệt khi Luật Đất đai năm 2013 bắt đầu có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2014 nhằm thay thế Luật Đất đai năm 2003.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được tác giả xác định cụ thể gồm 3 nội dung:
- Tìm hiểu những quy định của pháp luật về thu hồi đất qua các thời kỳ, trọng tâm là Luật Đất đai năm 2013;
- Nghiên cứu thực trạng áp dụng pháp luật và tình hình thu hồi đất ở nước ta trong giai đoạn trước và sau thời điểm ngày 01/07/2014;
- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi quy định về thu hồi đất.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ thu hồi đất và thực tiễn thi hành các quy định này trên địa bàn cả nước.
Phạm vi nghiên cứu được giới hạn như sau:
- Về không gian: Nghiên cứu trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam;
- Về nội dung: Tập trung vào các vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật thu hồi đất vì mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và xử lý vi phạm pháp luật đất đai.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận được xây dựng trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cùng các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về quản lý đất đai. Về mặt pháp lý, tác giả sử dụng khung tham chiếu gồm: Hiến pháp năm 2013 (trọng tâm là Điều 54 về điều kiện thu hồi đất "trong trường hợp thật cần thiết"); các đạo luật đất đai qua từng thời kỳ gồm Luật Đất đai năm 1987, Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai năm 2003 và hệ thống quy phạm mới của Luật Đất đai năm 2013 (từ Điều 61 đến Điều 94); Nghị định số 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ; cùng các văn bản dưới luật liên quan như Quyết định số 773/TTg của Thủ tướng Chính phủ.
Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả kết hợp chặt chẽ, bao gồm:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Làm rõ các khái niệm pháp lý, bản chất quyền lực nhà nước trong thu hồi đất và tác động kinh tế - xã hội của công tác giải phóng mặt bằng;
- Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu sự thay đổi của các chế định thu hồi đất qua các đạo luật năm 1987, 1993, 2003 và 2013; so sánh ưu điểm và nhược điểm giữa cơ chế thu hồi đất bắt buộc và cơ chế chuyển đổi đất đai tự nguyện;
- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu: Thu thập và tổng hợp dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo chính thức.
Nguồn dữ liệu được khai thác trong khóa luận bao gồm:
- Báo cáo kết quả giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật trong giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với các quyết định hành chính về đất đai của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (tháng 11/2012);
- Số liệu thống kê khiếu nại, tố cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường (năm 2005, 2011 và 6 tháng đầu năm 2014); số liệu xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân các cấp;
- Số liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về biến động đất đai và việc làm nông thôn;
- Báo cáo tổng kết thi hành Luật Đất đai năm 2003 và Báo cáo số liệu điều tra thực tế năm 2012 tại 7 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (Hà Nội, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh, Đà Nẵng, Long An, Bình Dương, TP. Hồ Chí Minh) với cỡ mẫu 1.445 hộ gia đình và các doanh nghiệp dự án;
- Hồ sơ thực tế các vụ việc khiếu kiện, cưỡng chế điển hình (như vụ cưỡng chế thu hồi đất đầm thủy sản tại xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng, Hải Phòng năm 2012; các điểm nóng tại Văn Giang - Hưng Yên, Vinashin - Hải Dương, Dương Nội và Cổ Nhuế - Hà Nội).
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THU HỒI ĐẤT
Chương này tập trung xác lập cơ sở lý luận về chế định thu hồi đất trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Tác giả định nghĩa: Thu hồi đất là văn bản hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm chấm dứt một quan hệ pháp luật đất đai để phục vụ lợi ích của Nhà nước, của xã hội hoặc xử lý hành chính hành vi vi phạm pháp luật đất đai của người sử dụng. Quyết định thu hồi đất mang ba đặc điểm pháp lý cơ bản: (1) là quyết định hành chính cá biệt của chủ thể có thẩm quyền làm chấm dứt quyền sử dụng đất; (2) thể hiện quyền lực nhà nước của người đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai, có quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế khi người sử dụng không chấp hành; (3) xuất phát từ nhu cầu công cộng/quốc gia hoặc đóng vai trò là biện pháp chế tài xử lý vi phạm.
Phân tích tác động của việc thu hồi đất, tác giả nêu rõ hai mặt:
- Tác động tích cực: Tăng thu ngân sách địa phương từ thuế, phí chuyển mục đích sử dụng đất; đẩy mạnh tốc độ đô thị hóa và hoàn thiện hạ tầng; thu hút đầu tư, giải quyết việc làm mới; thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp thuần túy sang công nghiệp và dịch vụ.
- Tác động tiêu cực: Diện tích đất canh tác nông nghiệp trên đầu người của Việt Nam ở mức rất thấp, chỉ đạt 1.560,4 m2/người (chưa bằng 1/3 so với Thái Lan và Campuchia); diện tích canh tác trung bình của một hộ dân năm 2010 là 0,85 ha; tỷ lệ kinh tế trang trại chỉ chiếm 1%. Hàng năm, cả nước mất khoảng 7.000 ha đất trồng lúa, đe dọa trực tiếp an ninh lương thực và khả năng duy trì 3,81 triệu ha lúa đến năm 2020. Về mặt xã hội, số liệu cho thấy 53% hộ dân sau thu hồi đất có thu nhập giảm sút, chỉ 13% có thu nhập tăng; trung bình mỗi hộ có 1,5 lao động không có việc làm; mỗi ha đất nông nghiệp bị thu hồi làm khoảng 13 lao động mất việc làm cũ. Tại vùng Đồng bằng sông Hồng, nơi có tỷ lệ đất bị thu hồi chiếm 4,4% diện tích đất nông nghiệp toàn vùng, trung bình 1 ha đất thu hồi làm mất việc làm của 15,33 lao động, cá biệt tại Hà Nội con số này lên tới gần 20 lao động/ha. Kéo theo đó là sự phân hóa giàu nghèo, tệ nạn xã hội và làn sóng di cư tự do vào đô thị.
Khái quát lịch sử lập pháp:
- Luật Đất đai năm 1987: Dựa trên nền tảng bao cấp, chỉ áp dụng cơ chế thu hồi đất bắt buộc theo 8 trường hợp quy định tại Điều 14; người bị thu hồi vì nhu cầu nhà nước/xã hội được đền bù thiệt hại thực tế và giao đất khác.
- Luật Đất đai năm 1993: Quy định cụ thể tại Điều 26 và 27 việc thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, công cộng. Tuy nhiên, trên thực tế Chính phủ áp dụng cơ chế này cho cả các dự án kinh tế tư nhân, dẫn đến cơ chế thỏa thuận không chính thức và làm phát sinh "chi phí kép" cho nhà đầu tư (vừa chi tiền ngầm cho người dân, vừa nộp tiền thuê đất cho Nhà nước).
- Luật Đất đai năm 2003: Lần đầu tiên ghi nhận song song hai cơ chế: thu hồi đất bắt buộc và chuyển đổi đất đai tự nguyện (nhà đầu tư thỏa thuận nhận chuyển nhượng, thuê đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất). Dù vậy, luật không xác định rõ ranh giới dự án phát triển kinh tế vì lợi ích công cộng và kinh tế vì lợi ích tư nhân, dẫn đến hiện tượng thu hồi tràn lan.
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG CỤ THỂ CỦA PHÁP LUẬT VỀ THU HỒI ĐẤT
Chương 2 phân tích chuyên sâu các quy định cụ thể của Luật Đất đai năm 2013 và Nghị định số 43/2014/NĐ-CP. Trước hết, tác giả so sánh hai cơ chế tiếp cận đất đai:
| Tiêu chí |
Cơ chế thu hồi đất bắt buộc |
Cơ chế chuyển đổi đất đai tự nguyện |
| Bản chất xác lập |
Quyết định hành chính đơn phương của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; Nhà nước tạo quỹ đất sạch giao chủ đầu tư. |
Thỏa thuận dân sự bình đẳng giữa nhà đầu tư và người đang sử dụng đất (mua bán tài sản, chuyển nhượng, thuê, góp vốn). |
| Phạm vi áp dụng |
Đất sử dụng cho mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng thật cần thiết. |
Dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh thương mại thuần túy không thuộc diện Nhà nước thu hồi bắt buộc. |
| Điểm mạnh |
Tiến độ giải phóng mặt bằng nhanh nếu có sự đồng thuận và hỗ trợ của chính quyền; giải quyết nhu cầu hạ tầng quy mô lớn. |
Đảm bảo tính chia sẻ lợi ích; hạn chế tối đa khiếu kiện kéo dài; giảm tải biên chế và chi phí cho bộ máy hành chính công. |
| Điểm yếu |
Dễ phát sinh khiếu kiện do giá bồi thường chênh lệch so với thị trường; tiềm ẩn nguy cơ tiêu cực, cơ chế "xin - cho". |
Khó khăn khi người sử dụng đất không hợp tác hoặc đòi giá quá cao; nhà đầu tư dễ bị tắc nghẽn dự án do thiếu quy định tháo gỡ. |
Về các trường hợp thu hồi đất, Luật Đất đai năm 2013 tách biệt thành 4 nhóm độc lập:
- Thu hồi vì mục đích quốc phòng, an ninh (Điều 61): Liệt kê 10 trường hợp cụ thể như làm nơi đóng quân; căn cứ quân sự; công trình phòng thủ; ga cảng quân sự; kho tàng vũ trang; trường bắn, bãi thử vũ khí; cơ sở đào tạo, bệnh viện, nhà công vụ của lực lượng vũ trang; cơ sở giam giữ do Bộ Quốc phòng, Bộ Công an quản lý.
- Thu hồi để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng (Điều 62): Thu hẹp thẩm quyền và siết chặt tiêu chí "thật cần thiết" theo Điều 54 Hiến pháp 2013. Chỉ áp dụng cho các dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội phê duyệt chủ trương; dự án do Thủ tướng Chính phủ chấp thuận/quyết định (khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, khu đô thị mới, dự án ODA, hạ tầng kỹ thuật cấp quốc gia); và dự án do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thông qua. Luật loại bỏ các dự án nhóm A thuần túy sản xuất kinh doanh khỏi diện Nhà nước thu hồi đất.
- Thu hồi do vi phạm pháp luật đất đai (Điều 64): Quy định 9 hành vi vi phạm, bao gồm sử dụng sai mục đích đã bị xử phạt mà tái phạm; cố ý hủy hoại đất; giao/cho thuê sai đối tượng hoặc thẩm quyền; nhận chuyển nhượng đất không được phép chuyển nhượng; không thực hiện nghĩa vụ tài chính sau xử phạt vi phạm hành chính. Đáng chú ý là chế tài xử lý dự án chậm tiến độ: đất được giao/cho thuê mà không sử dụng 12 tháng liên tục hoặc chậm tiến độ 24 tháng thì được gia hạn 24 tháng (phải nộp khoản tiền tương ứng với tiền sử dụng/thuê đất), hết thời gian gia hạn vẫn không sử dụng thì Nhà nước thu hồi không bồi thường về đất và tài sản.
- Thu hồi do chấm dứt việc sử dụng đất, tự nguyện trả lại, nguy cơ đe dọa tính mạng (Điều 65): Áp dụng khi tổ chức giải thể, phá sản hoặc không còn nhu cầu; cá nhân chết không có người thừa kế; người sử dụng tự nguyện trả đất; đất hết thời hạn không được gia hạn; đất ở có nguy cơ sạt lở, sụt lún, ô nhiễm môi trường đe dọa tính mạng con người.
Về căn cứ thu hồi đất: Quy định bắt buộc dự án phải nằm trong Kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được phê duyệt và bảo đảm tiến độ thực hiện.
Về thẩm quyền thu hồi đất (Điều 66): Phân định rõ UBND cấp tỉnh quyết định đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; UBND cấp huyện quyết định đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư. Luật mới cho phép UBND cấp tỉnh ủy quyền cho UBND cấp huyện khi khu vực thu hồi có cả hai nhóm đối tượng.
Về trình tự, thủ tục thu hồi và cưỡng chế:
- Thời hạn thông báo thu hồi đất tối thiểu: 90 ngày đối với đất nông nghiệp và 180 ngày đối với đất phi nông nghiệp.
- Điểm mới quan trọng: Quyết định thu hồi đất và quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phải được ban hành trong CÙNG MỘT NGÀY.
- Cơ chế kiểm đếm bắt buộc và cưỡng chế (Điều 70, 71): Bắt buộc trải qua quy trình vận động, thuyết phục của UBND và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã trong thời hạn 10 ngày. Việc cưỡng chế chỉ được thực hiện trong giờ hành chính và phải thành lập Ban thực hiện cưỡng chế do lãnh đạo UBND cấp huyện làm trưởng ban.
CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ THU HỒI ĐẤT VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
Chương 3 trình bày các cứ liệu thực chứng về thực trạng thu hồi đất và giải quyết tranh chấp, khiếu kiện tại Việt Nam:
Theo Báo cáo giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (tính đến tháng 11/2012), trong số 528 vụ việc khiếu nại, tố cáo tồn đọng, kéo dài có tới 422 vụ việc về đất đai (chiếm 79,9%). Trong đó, khiếu nại liên quan đến bồi thường, giải phóng mặt bằng và thu hồi đất chiếm 217 vụ việc (51%); tranh chấp đất đai chiếm 115 vụ việc (27%); đòi lại đất cũ chiếm 78 vụ việc (18%). Đáng lưu ý, tỷ lệ khiếu nại, tố cáo của người dân được xác định là đúng và có đúng một phần chiếm tới 47,8%; tỷ lệ khởi kiện hành chính tại Tòa án đúng và đúng một phần chiếm 19,5%. Thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho thấy trong 6 tháng đầu năm 2014, cơ quan này tiếp nhận 1.711 lượt đơn thư khiếu nại tố cáo, trong đó có 670 đơn thuộc lĩnh vực đất đai (chiếm 97,8% số đơn phân loại được).
Số liệu khảo sát thực tế năm 2012 tại 7 địa phương phản ánh rõ thái độ của người dân đối với các cơ chế chuyển đổi đất đai:
| Địa bàn điều tra |
Số hộ điều tra |
Nhà nước thu hồi toàn bộ |
Hộ dân đề xuất tự thỏa thuận |
Doanh nghiệp tự thỏa thuận |
Nhà nước thu hồi kết hợp DN tự thỏa thuận |
| TP. Hà Nội |
305 |
22 |
283 |
282 |
1 |
| Vĩnh Phúc |
195 |
0 |
195 |
194 |
1 |
| Quảng Ninh |
195 |
100 |
95 |
43 |
52 |
| TP. Đà Nẵng |
296 |
139 |
157 |
42 |
115 |
| Long An |
202 |
51 |
151 |
113 |
38 |
| Bình Dương |
105 |
21 |
84 |
39 |
45 |
| TP. Hồ Chí Minh |
147 |
16 |
131 |
63 |
68 |
| Tổng cộng |
1.445 |
349 |
1.096 |
776 |
320 |
Nguồn: Tổng hợp kết quả điều tra năm 2012 được dẫn trong luận văn.
Dữ liệu cho thấy có tới 1.096/1.445 hộ gia đình (tương đương 75,8%) mong muốn thực hiện theo cơ chế doanh nghiệp tự thỏa thuận. Đồng thời, 87% doanh nghiệp được điều tra bày tỏ sự quan tâm đến cơ chế tự thỏa thuận do tính linh hoạt.
Về việc đánh giá tính phù hợp của trình tự thu hồi đất tại các địa phương trên:
| Địa bàn |
Tổng số hộ |
Đánh giá phù hợp |
Đúng quy định |
Hợp lý |
Minh bạch |
Đánh giá chưa phù hợp |
Không đúng quy định |
Rườm rà |
Không minh bạch |
| Hà Nội |
305 |
174 |
82 |
46 |
46 |
131 |
5 |
101 |
25 |
| Vĩnh Phúc |
195 |
78 |
45 |
15 |
18 |
117 |
53 |
35 |
29 |
| Quảng Ninh |
195 |
145 |
52 |
42 |
51 |
50 |
17 |
25 |
8 |
| Đà Nẵng |
296 |
205 |
73 |
61 |
71 |
91 |
34 |
53 |
4 |
| Long An |
202 |
146 |
53 |
42 |
51 |
56 |
12 |
38 |
6 |
| Bình Dương |
105 |
77 |
29 |
20 |
28 |
28 |
12 |
16 |
0 |
| TP.HCM |
147 |
114 |
45 |
33 |
36 |
33 |
5 |
24 |
4 |
| Tổng |
1.445 |
939 |
379 |
259 |
301 |
506 |
138 |
292 |
76 |
Nguồn: Tổng hợp kết quả điều tra năm 2012 được dẫn trong luận văn.
Phân tích vụ cưỡng chế thu hồi đất điển hình tại Tiên Lãng (Hải Phòng): Năm 1993, UBND huyện Tiên Lãng giao 21 ha đất bãi bồi ven biển xã Vinh Quang cho ông Đoàn Văn Vươn thời hạn 14 năm; năm 1997 giao bổ sung 19,3 ha với cùng thời hạn tính từ năm 1993 (tổng 40,3 ha). Đến năm 2009, huyện ra quyết định thu hồi đất hết thời hạn sử dụng. Sáng ngày 05/01/2012, lực lượng cưỡng chế hơn 100 người bị người nhà ông Vươn dùng mìn tự chế và súng hoa cải chống trả, làm bị thương 4 công an và 2 quân nhân. Tác giả phân tích các sai phạm pháp lý của chính quyền địa phương: (1) Thời hạn giao đất nuôi trồng thủy sản theo luật định thời điểm đó phải là 20 năm chứ không phải 14 năm; (2) Diện tích giao đất vượt hạn mức 10 ha theo Quyết định số 773/TTg của Thủ tướng Chính phủ; (3) Hết thời hạn, người dân đương nhiên được xem xét gia hạn tiếp tục sản xuất nếu không thuộc diện Nhà nước thu hồi vì mục đích công cộng. Vụ việc kết thúc bằng việc Thủ tướng Chính phủ kết luận quyết định thu hồi sai pháp luật, thu hồi quyết định sai trái và cách chức Chủ tịch cùng Phó Chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng.
Đánh giá thực thi sau ngày 01/07/2014 và giải pháp hoàn thiện:
- Điểm mới đạt được: Bỏ quy định lập phương án bồi thường tổng thể; xác định giá đất bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể do UBND cấp tỉnh quyết định tại thời điểm thu hồi thay vì áp khung giá cứng; thu hồi đất ở chỉ được thực hiện sau khi hoàn thành xây dựng nhà ở hoặc hạ tầng khu tái định cư; nếu chậm chi trả bồi thường thì Nhà nước phải trả lãi suất cho người dân.
- Các kiến nghị giải pháp: Tiếp tục hoàn thiện quy định về giá đất bồi thường tiệm cận giá thị trường; giải quyết bài toán chênh lệch địa tô; nâng cao năng lực và bố trí đủ nguồn vốn cho Tổ chức phát triển quỹ đất tạo "đất sạch"; tăng cường đối thoại trực tiếp và công khai, minh bạch quy trình bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ngay từ cơ sở.
Kết quả và đóng góp
Về kết quả nghiên cứu cụ thể:
- Khóa luận hệ thống hóa toàn diện các căn cứ pháp lý, thẩm quyền, trình tự, thủ tục thu hồi đất, kiểm đếm bắt buộc và cưỡng chế theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 và Nghị định số 43/2014/NĐ-CP;
- Đưa ra bức tranh thực nghiệm thông qua số liệu khảo sát 1.445 hộ gia đình tại 7 địa phương, phản ánh thực tế 75,8% hộ dân mong muốn áp dụng cơ chế tự thỏa thuận trong các dự án phát triển kinh tế;
- Làm rõ nguyên nhân khiếu kiện đất đai thông qua số liệu giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (422/528 vụ việc kéo dài thuộc về đất đai; 47,8% khiếu nại của công dân có phần đúng hoặc đúng hoàn toàn).
Về giải pháp và kiến nghị hoàn thiện:
- Tác giả kiến nghị xây dựng tiêu chí phân định minh bạch các trường hợp Nhà nước thu hồi đất bắt buộc và dự án tư nhân tự thỏa thuận để loại trừ triệt để tình trạng lạm quyền;
- Hoàn thiện cơ chế bồi thường giá đất cụ thể tại thời điểm thu hồi, bảo đảm nguyên tắc tái định cư phải có điều kiện sống bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ;
- Phát huy vai trò của Tổ chức phát triển quỹ đất trong việc tạo lập quỹ "đất sạch" phục vụ đấu giá công khai;
- Thắt chặt kỷ luật hành chính và quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trả lãi suất khi cơ quan nhà nước chậm chi trả tiền đền bù.
Đóng góp tự nêu của tác giả: Công trình góp phần làm rõ những điểm mới tiến bộ của Luật Đất đai năm 2013 so với Luật Đất đai năm 2003; chỉ ra các bất cập trong áp dụng pháp luật tại địa phương và đóng góp cơ sở dữ liệu thực tiễn cho việc sửa đổi, bổ sung chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận được hoàn thành vào tháng 5/2015, chỉ chưa đầy một năm sau khi Luật Đất đai năm 2013 chính thức có hiệu lực (từ ngày 01/07/2014). Do đó, tác giả thừa nhận hạn chế khách quan là chưa thể có đầy đủ số liệu thống kê thực chứng nhiều năm để đánh giá chiều sâu tác động dài hạn của đạo luật mới trên thực tế; các nhận định về Luật Đất đai năm 2013 phần nhiều dừng ở mức phân tích dự báo trên cơ sở câu chữ pháp lý.
Hướng nghiên cứu tiếp được mở ra là theo dõi, đo lường việc áp dụng cơ chế định giá đất cụ thể của các địa phương trong giai đoạn thi hành Luật Đất đai năm 2013; đánh giá thực chất hiệu quả hoạt động của Tổ chức phát triển quỹ đất và mức độ bảo đảm sinh kế của người nông dân tại các khu tái định cư sau nhiều năm bị thu hồi đất.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Hành chính, Quản lý Đất đai và Kinh tế Nông nghiệp tham khảo phương pháp tiếp cận đề tài kết hợp giữa lý luận quy phạm và số liệu khảo sát thực tế;
- Những người thực hiện nghiên cứu, luận văn có chủ đề về thu hồi đất, giải phóng mặt bằng, khiếu nại hành chính và bồi thường tái định cư;
- Cán bộ làm công tác địa chính, giải phóng mặt bằng tại các ban quản lý dự án, tổ chức phát triển quỹ đất cấp huyện, cấp tỉnh tham khảo các quy trình kiểm đếm, đối thoại và bài học kinh nghiệm từ các sai phạm pháp lý trong vụ việc Tiên Lãng.
Phần đáng tham khảo nhất của văn bản là hệ thống bảng số liệu điều tra thực tế năm 2012 tại 7 tỉnh, thành phố và mục phân tích pháp lý chi tiết về các lỗi vi phạm trong vụ việc cưỡng chế thu hồi đất tại huyện Tiên Lãng.
Câu hỏi thường gặp
1. Theo số liệu khảo sát 1.445 hộ gia đình năm 2012 tại 7 tỉnh, thành phố, tỷ lệ người dân lựa chọn cơ chế tự thỏa thuận là bao nhiêu?
Theo bảng tổng hợp số liệu điều tra năm 2012 trong khóa luận, có 1.096 trong tổng số 1.445 hộ gia đình (chiếm tỷ lệ 75,8%) đề xuất phương án để doanh nghiệp tự thỏa thuận với người dân về mức bồi thường, trong khi chỉ có 349 hộ lựa chọn cơ chế Nhà nước thu hồi toàn bộ.
2. Điểm mới của Luật Đất đai năm 2013 về thời điểm ban hành quyết định thu hồi đất và quyết định phê duyệt phương án bồi thường là gì?
Luật Đất đai năm 2013 quy định Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền phải ban hành quyết định thu hồi đất và quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trong CÙNG MỘT NGÀY, khắc phục tình trạng trước đây thu hồi đất trước nhưng chậm trễ lập và duyệt phương án bồi thường.
3. Thời hạn thông báo thu hồi đất trước khi ra quyết định chính thức được quy định như thế nào?
Căn cứ Điều 67 Luật Đất đai năm 2013, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thông báo thu hồi đất cho người sử dụng đất biết chậm nhất là 90 ngày đối với đất nông nghiệp và chậm nhất là 180 ngày đối với đất phi nông nghiệp.
4. Sai phạm pháp lý cơ bản của UBND huyện Tiên Lãng trong vụ việc giao và thu hồi đất của ông Đoàn Văn Vươn là gì?
Văn bản chỉ rõ hai sai phạm pháp lý chính: Thứ nhất, UBND huyện ấn định thời hạn giao đất nuôi trồng thủy sản là 14 năm, trong khi theo quy định pháp luật thời điểm đó phải là 20 năm. Thứ hai, huyện giao diện tích lên tới 40,3 ha (vượt mức tối đa 10 ha đối với bãi bồi ven sông, ven biển quy định tại Quyết định số 773/TTg của Thủ tướng Chính phủ). Ngoài ra, khi hết hạn, người dân đang sử dụng ổn định đương nhiên được xem xét kéo dài thời hạn trừ trường hợp Nhà nước thu hồi theo quy hoạch được phê duyệt.
5. Theo báo cáo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội tháng 11/2012, các khiếu nại về bồi thường, giải phóng mặt bằng chiếm tỷ lệ bao nhiêu trong các vụ việc tồn đọng kéo dài?
Trong tổng số 528 vụ việc khiếu nại, tố cáo tồn đọng kéo dài được giám sát, khiếu nại về đất đai chiếm 422 vụ việc (79,9%). Trong đó, riêng nội dung khiếu nại về bồi thường giải phóng mặt bằng và dự án thu hồi đất là 217 vụ việc, chiếm 51%.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Anh đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và các quy định pháp luật về thu hồi đất, trọng tâm là những đổi mới của Luật Đất đai năm 2013. Bằng việc kết hợp phân tích chuẩn mực pháp lý với các số liệu thực chứng từ cơ quan quản lý và khảo sát thực địa tại 7 địa phương, công trình đã làm rõ căn nguyên của các tranh chấp, khiếu kiện đất đai gay gắt trong thực tiễn. Nghiên cứu khẳng định sự cần thiết phải dung hòa lợi ích giữa Nhà nước, nhà đầu tư và người sử dụng đất, đồng thời cung cấp những kiến nghị xác đáng nhằm hoàn thiện cơ chế xác định giá đất, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật thu hồi đất tại Việt Nam.