đặt vấn đề biệt lệ trong việc thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử đối với các vụ án hộ và hình thường "7a án nhân dân phúc thẩm nếu nhận thấy tính chất quan trọng của vụ án, thấy cân phải do Tòa án nhân dân phúc thẩm xử thì có thể giữ lại để xử sơ thẩm và chung thẩm ngay". Sau đó, do sự phát triển của tổ chức tư pháp và do chủ trương bảo đâm đầy đủ quyền bào chữa của bị cáo và các đương sự khác, vì vậy, biệt lệ nói trên cần được bãi bỏ. Theo Sắc lệnh số 12 không nói đến trường hợp biệt lệ, đối với các vụ án hình và hộ đều nhất luật thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử. Tóm lại, trong giai đoạn đầu của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa mặc dù phải thực hiện nhiệm vụ cách mạng quan trọng là chiến đấu chống thù trong giặc ngoài, nhưng Đảng và Nhà nước ta đã chú trọng xây dựng bộ máy Nhà nước, trong đó có cơ quan xét xử là Tòa án và thực hiện hai cấp xét xử cũng như đã có những quy định cụ thể về việc xét xử phúc thẩm.
Thực hiện tốt việc xét xử lại những bản án bị kháng cáo làm cho nhân dân ngày càng tin tưởng vào chế độ xã hội và hệ thống pháp luật mà Nhà nước ta đang xây dựng. - Giai đoạn thứ 2: Tir 1960 đến 1988 (trước khi có BLTTHS 1988). Sau kháng chiến chống Pháp thành công, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, nhằm đáp ứng nhiệm vụ trong tình hình mới, Hiến pháp 1959 ra đời thay thế Hiến pháp 1946. Để cụ thể hóa những quy định của Hiến p¿hp 1959 về Tòa án, Quốc hội Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ban hành Liat tổ chức Tòa án nhân dân ngày 14/7/1960.
Kể từ khi hệ thống Tòa án được thành lập đến nay mới có Luật tổ chức, đánh dấu bước phát triển mdi của ngành Tòa án. Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960 đã kế thừa truyền thống hai cắp xét xử của Sac lệnh số 13 năm 1946 và nguyên tắc này trở thành nauyên tac luật định. TANDTC tiếp tục ra những văn ban hướng dẫn việc 19 xét xử phúc thẩm như: Công văn số 507/TC ngày 2/4/1963 về thủ tục gửi hồ sơ án bị kháng án hoặc bị kháng nghị; Công văn số 1932/NCPL ngày 4/9/1963 giải đáp về thủ tục kháng cáo, kháng án; Công văn số 2014/NCPL ngày 18/11/1963 về giải quyết don kháng cáo quá han; Công văn số 244/TC ngày 1/3/965 về quyển hạn của Tòa án phúc thẩm. Ngày 19/5/1967, TANDTC ra Thông tư số 03-NCPL, lần đầu tiên hướng dẫn có hệ thống về trình tự tố tụng phúc thẩm hình sự.
Văn bản này đã đáp ứng một đòi hỏi cấp thiết trong hoàn cảnh pháp luật về trình tự tố tụng hình sự của ta còn thiếu nhiều quy định (về thời hạn kháng cáo, kháng nghị, về quyền thu thập tài liệu trước khi mở phiên tòa đã góp phần bảo đảm việc xét xử ở các Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm ngày càng nhanh chóng hơn, tạo điều kiện cho Tòa án nhân dân xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và kịp thời. Việc xét xử lại vụ án về nội dung cho phép Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm phát hiện và tự mình sửa chữa những sai lầm của Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm, đâm bảo phương châm chính xác, không oan, không lọt trong công tác xét xử. Mặc dù vậy, Thông tư số 03 ngày 19/5/1967 vẫn còn nhiều điểm hạn chế khi quy định Tòa án cấp phúc thẩm phải xét xử lại toàn bộ vụ án; quyền của những người tham gia tố tụng còn chưa được đảm bảo đầy đủ; quyền hạn của Tòa án cấp phúc thẩm quy định chưa cụ thể v. Vi vậy, trên cơ sở rút kinh nghiệm việc thực hiện Thông tư 03, TANDTC xây dung bản hướng dẫn về trình tự tố tụng phúc thẩm về hình sự (kèm theo Thông tư số 19-TATC ngày 2/10/1974) để thay thế văn ban cũ, với những quy định tương đối đầy đủ và hợp lý hơn.
Văn bản này gồm hai phần: Phần I: Xác định chức năng của Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm là xét xử lại những vụ án đã được xét xử theo trình tự sơ thẩm, khi bản án chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hay kháng nghị. Nhiệm vụ cụ thể của Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm là thẩm tra lại tính chất hợp pháp và có căn cứ của bản án sơ thẩm và xét xử lại vụ án về nội dung. Phần II: Quy định những vấn đề cụ thể trong trình tự tố tung phúc thẩm hình sự: Kháng cáo và kháng nghị; thủ tục xét xử ở cấp phúc thẩm; 20 quyền hạn của Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm trả về để xử lại, sau khi hủy bản án sơ thẩm cũng bị kháng cáo, kháng nghi. Bản hướng dẫn này đã có tác dụng tích cực trong việc hướng dẫn hoạt động của các Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm.
Đảm bảo việc xét xử phúc thẩm được nhanh chóng, kịp thời, đảm bảo sự phối hợp giữa Tòa án và Viện kiểm sát trong xét xử phúc thẩm nhằm mục đích sửa chữa những sai lầm của Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, đồng thời đảm bảo quyền của những người tham gia tố tụng. Văn bản này là cơ sở quan trọng để phát triển và hoàn thiện thành những quy định của BLTTHS về phúc thẩm. Sau năm 1975, đất nước hoàn toàn thống nhất. Để có thể áp dụng thống nhất pháp luật trong cả nước, áp dụng các văn bản pháp luật ở miền Nam cho phù hợp đường lối chính sách của Đảng, ngày 2/7/1976, Quốc hội khóa VI kỳ họp thứ nhất đã ra nghị quyết quy định: "Ở miền Nam chưa có sẽ áp dụng những văn bản miền Bắc đã có, như vậy, kể từ thời điểm này, việc xét xử phúc thẩm vụ án hình sự được áp dụng thống nhất trong cả nước.
Trong giai đoạn cách mạng mới này, để phù hợp với tình hình mới, Hiến pháp 1980 đã ra đời thay thế cho Hiến pháp 1959. Tuân theo những quy định của Hiến pháp 1980, Luật tổ chức Tòa án nhân đân 1981 đã được ban hành ngày 4/7/1981 tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa VII. Về cơ bản, chức năng, nhiệm vu của phúc thẩm vẫn được duy trì như trước đây, mặc dù trong Luật tổ chức Tòa án nhân dân 1981 không quy định nguyên tắc hai cấp xét xử nữa. Điều 28 Luật tổ chức Tòa án nhân dân 1981 quy định về thẩm quyền của Tòa phúc thẩm TANDTC đã nêu rõ: "Phúc thẩm những bản án và quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương".
Điều 31 và Điều 34 quy định thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh: "Phúc thẩm những bản án và quyết định sơ thẩm của các Tòa án nhân dân quận, huyện, thành phố thuộc tỉnh". Tóm lại: Trong giai đoạn 1960-1988, việc xét xử phúc thẩm vụ án hình sự đã được quy định rõ ràng, tiến bộ hơn nhiều so với giai đoạn trước. 2 - Giai đoạn thứ 3: Xét xử phúc thẩm vụ án hình sự từ 1988-1997. Năm 1985, Bộ luật hình sự ra đời đánh dấu bước phát triển quan trọng trong lịch sử lập pháp của Nhà nước ta sau 40 năm giành được độc lập.
Sau đó, BLTTHS cũng đã được thông qua tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa VIII (ngày 25/6/1988), đáp ứng được những yêu cầu, đòi hỏi của công cuộc cải cách tư pháp, đây là BLTTHS đầu tiên của nước ta. BLTTHS đã giành toàn bộ Chương XXII và Chương XXIII quy định thủ tục về phúc thẩm. Đây là những quy định hoàn thiện và đầy đủ nhất của nước ta kể từ ngày thành lập nước. Đến nay qua hai lần sửa đổi bổ sung, các chế định về phúc thẩm ngày càng được hoàn thiện phù hợp với thực tiễn xét xử, góp phần tích cực nâng cao chất lượng xét xử của Tòa án, kịp thời khắc phục những sai lầm trong công tác xét xử, đảm bảo lợi ích của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kết án và các đương sự khác.
Zo CHUONG 2 NHUNG QUY DINH CUA PHAP LUAT HIEN HANH VE THU TỤC PHÚC THẤM 9. KHÁNG CÁO, KHÁNG NGHỊ PHÚC THẤM Thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử, sau khi Tòa án cấp sơ thẩm tuyên án, bản án và quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật ngay mà Viện kiểm sát, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác còn có quyền kháng cáo, kháng nghị để yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại. Thông qua kháng cáo, kháng nghị, Viện kiểm sát, bị cáo và người tham gia tố tụng khác biểu thị sự bất đồng quan điểm của mình đối với việc giải quyết vụ án của Tòa ấn cấp sơ thẩm. Kháng cáo là một hình thức quan trọng để bị cáo và những người tham gia tố tụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Kháng nghị là một hình thức pháp lý để Viện kiểm sát thực hiện quyền kiểm sát xét xử đối với hoạt động xét xử của Tòa án. Luật tố tụng hình sự nước ta đã có những quy định cụ thể về những vấn đề có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị như: Chủ thể của quyền kháng cáo, kháng nghị; thủ tục, thời hạn kháng cáo, kháng nghị; thông báo về kháng cáo, kháng nghị cũng như việc bổ sung, thay đổi và rút kháng cáo, kháng nghị. Chủ thể của quyền khang cáo, kháng nghị Việc quy định chủ thể có quyền kháng cáo, kháng iighi và phạm vi quyền của các chủ thể đó là một vấn đề rất quan trọng. Trên cơ sở những quy định đó, các chủ thể thực hiện quyền của mình và cũng trên cơ sở các quy định đó, Tòa án xem xét việc kháng cáo, kháng nghị có hợp lệ hay không.
Tùy theo quy định của từng nước mà những chủ thể có quyền kháng cáo, kháng nghị và phạm vi quyền của họ có những điểm khác nhau nhưng nói chung vấn đề đó đều dược quy định rõ ràng, cụ thể trong BLTTHS. Ví du: Điều 325 BLTTHS của Liên bang Nga, và từ Điều 351 23 đến Điều 355 BLTTHS Nhật Bản, Điều 129 BLTTHS của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. À1 - Về quyên bháng cáo theo thủ tục phúc thẩm (Điêu 205 BLTTHS Việt Nam). Những người có quyền kháng cáo được quy định cụ thể như sau: Bị cáo và đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo đối với bản án và quyết định sơ thẩm, họ có quyền kháng cáo tất cả các quy định trong bản án sơ thẩm.