Giáo trình Lý thuyết Tài chính Tiền tệ - Viện Đại học Mở Hà Nội 2013

Giáo trình Lý thuyết Tài chính Tiền tệ của TS Nguyễn Tiến Hùng, tài liệu tham khảo quan trọng cho sinh viên và chuyên gia ngành tài chính ngân hàng Việt Nam.

Trường đại học

Viện Đại học Mở Hà Nội

Chuyên ngành

Tài chính - Tiền tệ

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo trình

2012

284
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan giáo trình Lý thuyết Tài chính Tiền tệ

Giáo trình Lý thuyết Tài chính Tiền tệ của TS. Nguyễn Tiến Hùng do Viện Đại học Mở Hà Nội xuất bản năm 2013 là tài liệu học tập quan trọng trong lĩnh vực kinh tế. Cuốn sách được xây dựng dựa trên nền tảng tham khảo tác phẩm nổi tiếng "The Economics of Money, Banking and Financial Markets" của Giáo sư F. Mishkin (lần xuất bản thứ 9). Giáo trình cập nhật các thực tiễn mới nhất tại thị trường tài chính trong nước và quốc tế. Nội dung bao gồm sáu chương, cung cấp kiến thức nền tảng về phạm trù Tài chính, Tiền tệ, Ngân hàng, Tín dụng và Ngoại hối. Đây là môn học nền tảng cho mọi đối tượng nghiên cứu trong lĩnh vực kinh tế. Giáo trình cũng phản ánh những thay đổi trong hệ thống pháp luật Việt Nam sau khi gia nhập WTO, bao gồm Luật Ngân hàng, Luật Chứng khoán, Luật các tổ chức tín dụng và Luật Thuế.

1.1. Bối cảnh ra đời của giáo trình

Giáo trình ra đời trong bối cảnh thị trường tài chính toàn cầu có nhiều biến động mạnh mẽ. Các khái niệm như cung tiền, tỷ giá, lạm phát, lãi suất và nợ công được nhắc đến hàng ngày. Việt Nam vừa gia nhập WTO, đòi hỏi chính sách tiền tệ và tài khóa phải thay đổi theo xu hướng hội nhập. Viện Đại học Mở Hà Nội đã biên soạn giáo trình này để đáp ứng nhu cầu giảng dạy và học tập hiện đại.

1.2. Đối tượng và phạm vi sử dụng

Giáo trình phục vụ nhiều đối tượng khác nhau. Sinh viên đại học sử dụng làm tài liệu học tập chính thức. Giảng viên dùng để tham khảo phương pháp giảng dạy. Các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách tìm thấy giá trị tham khảo trong cuốn sách. Người đọc cần có kiến thức cơ bản về Kinh tế học vi mô và vĩ mô trước khi tiếp cận giáo trình này.

II. Phân tích nội dung chính của giáo trình

Giáo trình trình bày hệ thống kiến thức về tài chính tiền tệ một cách có cấu trúc. Chương đầu tiên giới thiệu khái niệm tài chính, vai trò và chức năng của thị trường tài chính. Nội dung giải thích tại sao hệ thống tài chính có thể di chuyển vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu một cách hiệu quả. Giáo trình phân tích các công cụ thị trường bao gồm cổ phiếu, trái phiếu và các loại chứng khoán khác. Cổ phiếu được định nghĩa là chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu cổ phần trong công ty cổ phần. Giáo trình chia cổ phiếu thành hai loại chính: cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi. Mỗi loại có đặc điểm riêng về quyền lợi và trách nhiệm. Thị trường chứng khoán được phân tích với cả cơ hội và rủi ro. Giáo trình nhấn mạnh tính chất biến động liên tục của thị trường tài chính trong và ngoài nước.

2.1. Hệ thống thị trường tài chính

Giáo trình trình bày cấu trúc thị trường tài chính bao gồm thị trường vốn và thị trường tiền tệ. Thị trường vốn bao gồm thị trường tín dụng trung dài hạn và thị trường chứng khoán. Thương mại quốc tế và thị trường tài chính quốc tế tạo thành hai nút thắt gắn kết các nền kinh tế. Hai yếu tố này hỗ trợ và tương tác lẫn nhau trong xu hướng toàn cầu hóa.

2.2. Các công cụ tài chính cơ bản

Cổ phiếu là công cụ tài chính quan trọng được phân tích chi tiết trong giáo trình. Cổ phiếu không có kỳ hạn và không hoàn lại phần vốn góp. Cổ tức phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh, không cố định ở mức cụ thể. Trái phiếu và các công cụ nợ khác cũng được giới thiệu. Giáo trình nhấn mạnh vai trò của cổ đông trong việc đóng góp hiệu quả vào hoạt động doanh nghiệp.

III. Phương pháp tiếp cận và ứng dụng thực tiễn

Giáo trình áp dụng phương pháp tiếp cận thực tiễn kết hợp lý thuyết. TS. Nguyễn Tiến Hùng tham khảo nhiều nguồn tài liệu uy tín trong và ngoài nước. Nguồn nước ngoài bao gồm tác phẩm của Giáo sư F. Mishkin và các tổ chức quốc tế. Nguồn trong nước bao gồm tài liệu từ Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Giáo trình cập nhật những thay đổi mới nhất trong hệ thống pháp luật tài chính. Phương pháp biên soạn hướng đến tính ứng dụng cao trong thực tế. Người học có thể liên hệ kiến thức lý thuyết với hoạt động thực tế của doanh nghiệp. Giáo trình cung cấp câu hỏi ôn tập và câu hỏi trắc nghiệm sau mỗi chương. Cách tiếp cận này giúp người học nắm vững kiến thức và rèn luyện tư duy logic. Tính thời sự của giáo trình được đảm bảo qua việc cập nhật biến động thị trường liên tục.

3.1. Phương pháp biên soạn giáo trình

Tập thể tác giả áp dụng phương pháp kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn. Giáo trình tham khảo tài liệu từ nhiều nguồn uy tín quốc tế và trong nước. Việc cập nhật pháp luật mới đảm bảo tính thời sự của nội dung. Phương châm biên soạn hướng đến việc tiếp cận những thay đổi của hệ thống pháp luật hiện hành.

3.2. Giá trị ứng dụng trong đào tạo

Giáo trình được sử dụng rộng rãi trong đào tạo đại học chuyên ngành kinh tế. Nội dung phù hợp cho việc giảng dạy và học tập có hệ thống. Câu hỏi ôn tập giúp củng cố kiến thức sau mỗi chương học. Giáo trình cũng là tài liệu tham khảo hữu ích cho các chuyên gia và nhà hoạch định chính sách.

IV. Kết luận và đánh giá tổng thể giáo trình

Giáo trình Lý thuyết Tài chính Tiền tệ của TS. Nguyễn Tiến Hùng đóng vai trò quan trọng trong đào tạo kinh tế tại Việt Nam. Cuốn sách cung cấp nền tảng kiến thức vững chắc về tài chính, tiền tệ và ngân hàng. Nội dung được cập nhật theo thực tiễn thị trường tài chính trong nước và quốc tế. Giáo trình phản ánh đúng bối cảnh hội nhập kinh tế của Việt Nam sau khi gia nhập WTO. Hệ thống pháp luật mới được tích hợp vào nội dung giảng dạy. Mặc dù có thể còn một số thiếu sót do biến động liên tục của thị trường, giáo trình vẫn là tài liệu giá trị. Cuốn sách giúp người đọc hiểu rõ mối quan hệ giữa các yếu tố tài chính tiền tệ. Tư duy logic và khả năng phân tích được rèn luyện qua hệ thống câu hỏi phong phú. Giáo trình xứng đáng là tài liệu tham khảo không thể thiếu cho sinh viên và nhà nghiên cứu kinh tế.

4.1. Điểm nổi bật của giáo trình

Giáo trình có nhiều ưu điểm vượt trội so với các tài liệu cùng thời kỳ. Nội dung cập nhật thực tiễn thị trường tài chính mới nhất. Hệ thống kiến thức được xây dựng có cấu trúc rõ ràng từ cơ bản đến nâng cao. Việc tham khảo nguồn tài liệu quốc tế uy tín đảm bảo chất lượng nội dung. Câu hỏi ôn tập đa dạng giúp người học tự đánh giá năng lực.

4.2. Hướng phát triển và cải tiến

Giáo trình cần tiếp tục cập nhật theo sự biến động của thị trường tài chính. Các công cụ tài chính mới xuất hiện đòi hỏi bổ sung nội dung thường xuyên. Sự phát triển của công nghệ tài chính cũng cần được phản ánh. Việc tích hợp thêm case study thực tế sẽ tăng giá trị ứng dụng cho người học.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Sách giáo trình ts nguyễn tiến hùng giáo trình lý thuyết tài chính tiền tệ viện đại học mở hà nội 2013 3

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TÀI CHÍNH VÀ THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH Rất nhiều người trong chúng ta khi nói đến “tài chính” đều nghĩ ngay đến tiền, vậy thực chất tài chính là gì? Buổi tối, khi chúng ta ngồi xem tivi có bản tin tài chính, thông tin trong bản tin này gồm những gì? có khác tiền không? Nếu chỉ là tiền sao không gọi là bản tin tiền? Anh Trần Văn Lượng xã Nhật Tựu, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam, tìm ra cách làm những viên gạch siêu nhẹ, có thể nổi được trên mặt nước lại cách âm, cách nhiệt, chịu lực gấp nhiều lần so với những loại vật liệu xây dựng thông thường. Điều đặc biệt loại gạch này không hề được nung như các loại gạch khác nên thân thiện với môi trường, không gây ô nhiễm. Độ cứng của loại gạch này tốt hơn rất nhiều, độ chịu lực cao.

Sáng chế của anh Lượng đã được Viện Vật liệu xây dựng, thuộc Bộ Xây dựng công nhận là vật liệu siêu nhẹ, có tác dụng chống thấm, chịu lửa tiêu chuẩn TCVN 317- 2005. Năm 2011, sản phẩm của anh được Cục sở hữu trí tuệ công nhận. Sản phẩm gạch siêu nhẹ cốt cenllulose của doanh nghiệp anh Lượng đã có mặt trên thị trường khắp các tỉnh như Hà Nội, Hải Dương, Hòa Bình và nhiều tỉnh thành khác. Mỗi năm anh sản xuất hàng trăm nghìn viên gạch nhưng do vốn đầu tư còn hạn chế và diện tích mặt bằng nhà xưởng quá nhỏ (khoảng 1.800 m2) nên mới chỉ đáp ứng được 10% nhu cầu của khách hàng.

Có thể thấy được, vốn là vấn đề mà anh Lượng đang gặp phải trong việc mở rộng sản xuất gạch của mình. Ở chiều ngược lại, rất nhiều người hưu trí, sau một thời gian dài lạm việc và tích lũy có nhiều khoản tiền đang gửi tiết kiệm. Nêu như có thể giúp hai thành phần trên gặp được nhau, để những người về hưu cung cấp vốn, anh Lượng sẽ sản xuất được nhiều gạch và chi phí xây dựng sẽ giảm, giá nhà giảm và nền kinh tế sẽ tốt lên. Hay khi FPT cần tiền để sản xuất một thế hệ điện thoại cảm ứng mới.

Thành phố Hà Nội cần vốn để xây dựng hệ thống thoát nước, Thị trường tài chính, trung gian tài chính (ngân hàng, công ty bảo hiểm, quỹ) có nhiệm vụ giúp cho người thưa vốn gặp được người thiếu vốn. Giúp cho số vốn nhàn dỗi trong nền kinh tế được đưa vào quá trình phát triển kinh tế. Để có thể hiếu được những tác động của thị trường tài chính và của các trung gian tài chính tới nền kinh tế, chúng ta cần hiểu được cơ cấu tổ chức và cách hoạt động của những đối tượng trên. Trong chương này, chúng ta sẽ tìm hiểu về vai trò, chức năng, cấu trúc của thị trường tài chính, các công cụ được mua bán trên thị trường tài chính.

Ngoài ra, các chủ thể tham gia trên thị trường tài chính và cách điều hành thị trường tài chính cũng sẽ được trình bày trong chương này. Nhiệm vụ của chương là đưa ra một cái nhìn tổng thể cho những tìm hiểu bổ ích và lý thú về thị trường tài chính và những chủ thể tham gia trên đó, làm cơ sở cho việc nghiên cứu các chương tiếp theo trong cuốn sách. Viện Đại học Mở Hà Nội - 2012 Page 4 Lý thuyết Tài chính Tiền tệ 1.1 TÀI CHÍNH 1.1 Khái niệm tài chính Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh rằng, vượt qua thời kỳ sơ khai, khi chế độ tư hữu tư liệu sản xuất ra đời thì cũng đồng thời hình thành nên các giai cấp trong xã hội, các giai cấp này có sự đối kháng về quyền lợi trong việc sở hữu tư liệu sản xuất. Nhu cầu của con người thúc đẩy việc trao đổi hàng hóa từ hàng – hàng đến hàng – tiền – hàng.

Khi thương mại phát triển, quá trình trao đổi này còn được mở rộng hơn sang hàng – tiền – hàng – tiền …. Một chu trình gồm bốn khâu được hình thành nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội gồm: sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng. Tài chính thuộc về phạm trù phân phối, các quan hệ phân phối ở đây được thực hiện dưới hình thức giá trị. Khi xã hội phát triển nhờ sự thăng hoa của sản xuất, trao đổi hàng hóa và tiền tệ đã thúc đẩy sự phân chia giai cấp và đối kháng giai cấp.Trong điều kiện lịch sử đó, Nhà nước đã xuất hiện, tuy nhiên để duy trì bộ máy thống trị, Nhà nước cần phải có cơ sở vật chất cần thiết và nguồn lực để tạo ra cơ sở vất chất đó được huy động bằng việc phân phối lại một phần giá trị sản phẩm do xã hội tạo ra.

Nhà nước là chủ thể duy nhất có quyền lực chính trị trong việc đúc tiền, in tiền, lưu thông tiền tệ và có khả năng tác động đến sự vận động của tiền trên phương diện quy định hiệu lực pháp lý của đồng tiền và tạo ra môi trường pháp lý cho việc tạo lập các quỹ tiền tệ. Trong môi trường kinh tế hàng – tiền, các chủ thể trong nền kinh tế đã sử dụng tiền tệ vào việc tham gia phân phối sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân để tạo lập nên các quỹ tiền tệ riêng nhằm phục vụ cho các mục đích riêng của mỗi chủ thể. Vì vậy, có thể thấy rằng kinh tế hàng hóa – tiền tệ và Nhà nước là những nhân tộ thúc đẩy sự ra đời và duy trì sự tồn tại của tài chính. Bản chất của tài chính có thể định nghĩa là: tổng thể hệ thống các quan hệ kinh tế gắn với việc phân phối các sản phẩm của xã hội dưới hình thức giá trị, từ đó tạo ra các quỹ tiền tệ và sử dụng chúng để thỏa mãn các nhu cầu về tích lũy và tiêu dùng cho các chủ thể trong nền kinh tế.

Tiền tệ, giá cả và tiền lương là các công cụ để phân phối lại các sản phẩm được tạo ra và từ đó hình thành nền phạm trù tài chính. Ví du: hoạt động trả lương cho người lao động là một hoạt động tài chính vì nó liên quan đến việc phân phối lại một phần giá trị mà người lao động đó tạo ra. Điều này giúp hình thành nên quỹ tiền tệ cho người lao động được nhân lương. Nếu người lao động sử dụng toàn bộ quỹ lương này của mình cho hoạt động tiêu dùng như mua những hàng hóa và dịch vụ cho cuộc sống hàng ngày, thì hoạt động sử dụng quỹ tiền tệ đó không được coi là hoạt động tài chính.

Tuy nhiên, nếu người lao động trích một phần trong quỹ tiền tệ đó để tiết kiệm hoặc trả nợ thì hành động này sẽ tạo nên một quỹ tiền tệ mới (quỹ để tiết kiệm hoặc quỹ trả nợ) đây là một hoạt động tài chính. Viện Đại học Mở Hà Nội - 2012 Page 5 Lý thuyết Tài chính Tiền tệ Đến đây, chúng ta có thể hình dung được ý nghĩa và sự hình thành của pham trù tài chính. Sang mục tiếp theo, chúng ta sẽ đi sâu và tìm hiểu các chức năng của tài chính.2 Chức năng của tài chính Khi nói đến chức năng của tài chính, người ta thường nói đến ba chức năng chính của nó là: chức năng phân phối sản phẩm của xã hội dưới hình thức giá trị, chức năng giám sát quá trình phân phối và chức năng tạo lập vốn. Trước hết chúng ta cần hiểu rõ sự khác biệt của tài chính với khái niệm tiền tệ và thương mại.

Nếu trong hoạt động thương mại, tiền tệ đóng vai trò là vật trung gian môi giới trong trao đổi hàng hóa, là phương tiện giúp cho trao đổi hàng hóa được diễn ra thuận lợi và hiệu quả hơn. Ở đây, tiền tệ chỉ đóng vai trò là phương tiện còn hàng hóa mới là đối tượng được trao đổi. Tương tự, trong tài chính, hoạt động phân phối giữa các chủ thể kinh tế được thực hiện thông qua việc tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ. Tài chính được thể hiện qua sự di chuyển của các dòng tiền tệ, và bản chất của tài chính là phân phối các sản phẩm tạo ra trong nền kinh tế dưới hình thức giá trị.

Hoạt động tài chính phải thông qua tiền tệ để phân phối giá trị vì thế trong tài chính tiền tệ cũng chỉ là phương tiện, sản phẩm mới là đối tượng của phân phối. Điểm khác biệt giữa tài chính và thương mại là: trong thương mại, sự vận động của tiền tệ luôn gắn với sự vận động của hàng hóa và dịch vụ tham gia vào quá trình trao đổi, còn trong tài chính sự vận động của tiền tệ là độc lập tương đối với sự vận động của hàng hóa và dịch vụ (vì trong tài chính vấn đề được quan tâm là sự di chuyển của giá trị hàng hóa).1 Chức năng phân phối “Mỗi cá nhân sẽ nỗ lực lao động để đạt doanh thu hàng năm của xã hội nhiều nhất có thể. Thực tế, một người thường không có ý định thúc đẩy lợi ích công mà cũng không biết anh ta thúc đẩy ra sao. Anh ta chỉ cố tình lấy phần của mình và trong hầu hết các trường hợp, đều có một bàn tay vô hình giúp người này thực hiện việc anh ta không có ý định làm.

Qua sự tư lợi, anh ta thường thúc đẩy lợi ích xã hội hơn là khi có ý định thực hiện điều đó. Tôi chưa từng biết ai kinh doanh các hàng hóa công cộng lại có thể thực hiện được nhiều điều tốt đến thế”(Adam Smith). Các sản phẩm được xã hội sản xuất ra sẽ được kết nối với nhau qua hai kênh chính là sản xuất với sản xuất và sản xuất với tiêu dùng. Mỗi cá nhân nhận thức và vận dụng khả năng phẩn phối của tài chính, và sẽ tự tổ chức việc phân phối các sản phẩm được sản xuất ra dưới hình thức giá trị.

Thức chất, chức năng phân phối của tài chính giúp cho mỗi chủ thể trong nền kinh tế nhận được một phần của cải để xây dựng nên các quỹ tiền tệ. Quỹ tiền tệ này có thể được sử dụng cho mục đích của từng cá thể hay cho toàn bộ xã hội. Một sản phẩm được quy đổi thành tiền, sau khi được đưa ra thị trường tiêu thụ, nó sẽ đem về các nguồn lực tài chính cho các chủ thể khác nhau trong nền kinh Viện Đại học Mở Hà Nội - 2012 Page 6 Lý thuyết Tài chính Tiền tệ tế như: thuế cho nhà nước, lợi nhuận cho doanh nghiệp sản xuất, lương cho người lao động.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ