Chương 1 em đã khái quát những nội dung cơ bản về Văn phòng thương mại – huyện Thataeng – tỉnh Sekong cộng hòa nhân dân Lào, Huyện Tha Taeng, tỉnh Sekong Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, thuộc Tiểu khu Sekong. Là thành phố có giao thông vận tải thuộc địa phận Nam Lào, Văn phòng thương mại và công nghiệp Huyện Thataeng Tỉnh Sekong được thành lập vào ngày 05 tháng 07 năm 1976 là một doanh nghiệp nhà nước độc lập có tư cách pháp nhân hoạt động dưới sự điều chính của luật doanh nghiệp nhà nước Lào. 8 CHƯƠNG 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN PHÁP LUẬT CỘNG HÒA NHÂN DÂN LÀO VỀ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP 2. TỔNG QUAN VỀ DOANH NGHIỆP VÀ THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP THEO PHÁP LUẬT CỘNG HÒA NHÂN DÂN LÀO 2.
Khái niệm, đặc điểm, phân loại doanh nghiệp a. Khái niệm Trong quá trình hình thành và phát triển kinh tế ở bất kỳ quốc gia nào, doanh nghiệp cũng là đơn vị cơ sở, một tế bào của nền kinh tế tạo ra của cải vật chất cho xã hội, trực tiếp phối hợp các yếu tố sản xuất một cách hợp lý nhằm tạo ra những sản phẩm hoặc dịch vụ một cách có hiệu quả nhất. Với vai trò vô cùng quan trọng đó, doanh nghiệp trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, trong đó có khoa học pháp lý. Mỗi ngành khoa học lại có những quan điểm khác nhau về “doanh nghiệp”.
Bên cạnh đó, sự hình thành và phát triển của các doanh nghiệp còn bị tác động bởi yếu tố chủ quan, tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau trong từng thời kỳ lịch sử. Theo đó, khái niệm doanh nghiệp, tương ứng với mỗi giai đoạn, mỗi quốc gia, mỗi khu vực lại có những cách hiểu không đồng nhất. Hiện nay, trong điều kiện nước CHDCND Lào đang tiến vào thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, với ý nghĩa tạo tiền đề lý luận cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp, quan điểm về doanh nghiệp cần được tiếp cận phù hợp với xu hướng phổ biến, đáp ứng đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Để thống nhất cách hiểu về doanh nghiệp, chúng ta cần xem xét khái niệm doanh nghiệp từ hai góc độ: kinh tế - xã hội và pháp lý, gắn với những yếu tố của nền kinh tế thị trường.
Dưới góc độ kinh tế - xã hội, các doanh nghiệp được coi là thành tố cơ bản của hệ thống kinh tế - xã hội, tuy nhiên dưới góc độ này, khái niệm doanh nghiệp cũng được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Trong tiếng Anh, Từ điển Black’law dictionary định nghĩa “doanh nghiệp” (Enterprise) có nghĩa là “hoạt động kinh doanh”. Như vậy, cách hiểu này mới chỉ đề cập đến khía cạnh thương mại của doanh nghiệp chứ chưa thực sự nhìn nhận bản chất của doanh nghiệp dưới góc độ là những thực thể kinh tế - xã hội độc lập mà ở đó hoạt động kinh doanh chỉ là chức năng đầu tiên và chủ yếu. Từ điển Tiếng Việt định nghĩa “doanh nghiệp là một hình thức tổ chức kinh tế làm công việc kinh doanh”.
Theo đó, xét về mặt bản chất, doanh nghiệp là một loại hình tổ chức nên mang những đặc điểm chung như bao gồm nhiều thành viên, có một cấu trúc rõ ràng để các thành viên thực hiện phần việc của mình. Bản chất của doanh nghiệp là những thực thể xã hội, sinh ra với chức năng chủ yếu là hoạt động kinh doanh. Doanh nghiệp được cấu thành bởi nhiều yếu tố khác nhau như: Cơ sở vật chất (vốn, tài sản), bộ máy quản lý điều hành, người lao động. Sự hình thành các doanh nghiệp là hệ quả tất yếu của sự phát triển hoạt động kinh doanh.
Kinh doanh là tổ chức việc sản xuất, buôn bán, dịch vụ nhằm mục đích sinh lợi. 9 Hoạt động kinh doanh tồn tại với tính chất nghề nghiệp là cơ sở kinh tế - xã hội. Kinh doanh là hoạt động mang tính nghề nghiệp, điều đó có nghĩa là trong xã hội có những người, nhóm người, tổ chức mà nghề nghiệp chính của họ là kinh doanh, sống bằng nghề kinh doanh. Thực tiễn đã chứng minh, kinh doanh với tính chất là một nghề nghiệp chỉ ra đời và phát triển khi phản công lao động trong xã hội đã phát triển đến một trình độ nhất định và hình thành nền sản xuất hàng hoá.
Như vậy, dưới góc độ kinh tế - xã hội, doanh nghiệp được tổ chức theo một cấu trúc nhất định để sử dụng vốn, bộ máy quản lý, lực lượng lao động nhằm thu lợi nhuận sau một thời gian hoạt động. Với cách hiểu trên đây, khái niệm doanh nghiệp ở Lào không đồng nghĩa với khái niệm chủ thể kinh doanh theo quan niệm phổ biến ở nhiều nước trên thế giới, coi doanh nghiệp là chủ thể pháp luật bao gồm cả cá nhân và tổ chức. Theo đó, doanh nghiệp ở Lào chỉ là một trong rất nhiều chủ thể kinh doanh được pháp luật ghi nhận để điều chỉnh. Có thể khẳng định rằng, với những đặc điểm nêu trên, doanh nghiệp chỉ thực sự phát huy lợi thế trong nền kinh tế thị trường.
Theo kinh nghiệm phát triển kinh tế của Lào trước đây, trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, các doanh nghiệp chịu ảnh hưởng nhiều từ phía Nhà nước về nguồn vốn cũng như mục tiêu, kế hoạch sản xuất, kinh doanh. Với mô hình này, Nhà nước chứ không phải là các doanh nghiệp đóng vai trò trung tâm của nền kinh tế. Bước sang nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp chủ yếu hoạt động theo những quy luật kinh tế cơ bản (quy luật cạnh tranh, quy luật giá trị, quy luật cung - cầu) nên tất yếu có quyền tự chủ rất cao. Xuất phát từ mục tiêu xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, ở Lào hiện nay, khái niệm doanh nghiệp và các yếu tố ảnh hưởng đến việc thành lập, hoạt động của doanh nghiệp không những bị chi phối bởi những quy luật của nền kinh tế thị trường mà còn bị chi phối bởi định hướng xây dựng XHCN.
Dưới góc độ pháp lý, khái niệm doanh nghiệp được pháp luật nhìn nhận với những đặc trưng riêng. Theo Luật Kinh doanh năm 1994 thì doanh nghiệp được định nghĩa là “một đơn vị kinh doanh được thành lập nhằm mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động kinh doanh”. Khái niệm này có nội hàm khá rộng, theo đó, tất cả những đơn vị kinh doanh có hoạt động kinh doanh sẽ được công nhận là doanh nghiệp. Tuy nhiên, khái niệm trong Luật Kinh doanh năm 1994 chưa thể hiện được những đặc điểm pháp lý của doanh nghiệp.
Đến khi LDN (2005) và LDN (2013) được ban hành, các nhà làm luật đã đưa ra khái niệm doanh nghiệp một cách cụ thể và đầy đủ hơn “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được ĐKKD theo quy định pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh” (Điều 2 LDN (2020)). Với định nghĩa này, doanh nghiệp được hiểu là một loại chủ thể pháp luật có tư cách chủ thể pháp lý độc lập và có nghề nghiệp kinh doanh. Trong điều kiện kinh tế thị trường, doanh nghiệp trở thành đối tượng trung tâm chịu sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật kinh doanh. 10 Trên cơ sở nghiên cứu các đặc điểm pháp lý cơ bản của doanh nghiệp trong các khái niệm trên, có thể thấy rằng, thuật ngữ doanh nghiệp được dùng để chỉ một chủ thể kinh doanh độc lập, được thành lập và hoạt động dưới nhiều mô hình cụ thể với những tên gọi khác nhau nhưng chủ thể này phải có đủ những đặc trưng pháp lý và thoả mãn những điều kiện do pháp luật quy định.
Đặc điểm Trong nền kinh tế thị trường, bản chất pháp lý của doanh nghiệp nói chung thể hiện qua các đặc trưng chủ yếu sau: Thứ nhất, doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế hay đơn vị sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp là một đơn vị sản xuất, kinh doanh được tổ chức, nhằm tạo ra sản phẩm và dịch vụ đáp ứng nhu cầu của thị trường, thông qua đó tối đa hoá lợi nhuận trên cơ sở tôn trọng luật pháp của Nhà nước và quyền lợi chính đáng của doanh nghiệp và người tiêu dùng. Với quan điểm này, nền kinh tế vận hành theo cơ chế kinh tế kế hoạch tập trung không bao hàm các yếu tố cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Thứ hai, doanh nghiệp là một loại chủ thể pháp luật.
Trong điều kiện kinh tế thi trường. với việc thừa nhận về tự do kinh doanh, tất yếu có sự tham gia vào hoạt động kinh doanh (hành nghề kinh doanh) của các cá nhân, tổ chức thuộc các thành phần kinh tế và hình thức sở hữu khác nhau. Khái niệm doanh nghiệp trong luật pháp có ý nghĩa là danh tính pháp lý chỉ những chủ thể hành nghề kinh doanh để phân biệt với những chủ thể không có nghề nghiệp này. Với tư cách là một loại chủ thể pháp luật, doanh nghiệp có năng lực chủ thể tham gia các quan hệ pháp luật, trong đó trước hết và chủ yếu là các quan hệ kinh doanh.
Tư cách chủ thể pháp luật của doanh nghiệp có thể là tư cách cá nhân. Trong trường hợp doanh nghiệp cá nhân, năng lực chủ thể pháp luật của doanh nghiệp chính là năng lực của chủ thể pháp luật của cá nhân trong việc tham gia các quan hệ kinh doanh theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp doanh nghiệp là một tổ chức, năng lực chủ thể của doanh nghiệp được phân biệt với năng lực chủ thể của những người (tổ chức hoặc cá nhân) đã tạo ra nó. Ngoại trừ trường hợp doanh nghiệp cá nhân, doanh nghiệp tồn tại với tư cách pháp lý (tương đối) với chủ sở hữu của nó.
Thực tiễn pháp luật kinh doanh trên thế giới cũng như ở nước CHDCND Lào đã ghi nhận những doanh nghiệp không phải là pháp nhân và cũng không phải là cá nhân (công ty hợp danh). Thứ ba, doanh nghiệp được xác lập tư cách (thành lập và đăng ký kinh doanh) theo thủ tục do pháp luật quy định. Việc thành lập và đăng ký kinh doanh là cơ sở để xác định tính chất chủ thể pháp lý độc lập của doanh nghiệp, gắn với những đặc điểm của hoạt động kinh doanh. Thủ tục xác lập tư cách pháp lý cho doanh nghiệp có sự khác nhau giữa các loại hình doanh nghiệp, phù hợp với những đặc điểm về mặt tổ chức của từng loại hình doanh nghiệp.