Chương 1: Giới thiệu tổng quan nghiên cứu gồm vấn đề được nghiên cứu, mục tiêu, đối tượng cần nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu luận văn, dữ liệu nghiên cứu và tóm tắt kết quả nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước. Chương 3: Trình bày phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Phân tích thực nghiệm tác động của FDI đến bất bình đẳng thu nhập của Việt Nam giai đoạn 2007-2015.
Chương 5: Kết luận kết quả nghiên cứu, gợi ý giải pháp từ kết quả nghiên cứu và những hạn chế của đề tài cũng như đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. Tóm tắt chƣơng Nhận thấy được ảnh hưởng của FDI đến bất bình đẳng thu nhập ở các tỉnh, thành, các vùng tại Việt Nam và thực tế có rất ít công trình nghiên cứu về tác động của FDI đến bất bình đẳng thu nhập ở các tỉnh, thành của Việt Nam. Vì vậy chương một đã đưa ra vấn đề nghiên cứu “Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến bất bình đẳng thu nhập tại các vùng ở Việt Nam giai đoạn 2007-2015”. Bên cạnh đó, chương một đã nêu câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu, phương pháp và dữ liệu nghiên cứu.
Tóm tắt kết quả nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài cũng được đề cập trong chương này. Cuối cùng là giới thiệu về kết cấu của luận văn. Từ đó, làm tiền đề cho nghiên cứu của những chương tiếp theo của đề tài. 5 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.
Khái niệm về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài Có nhiều quan điểm khác nhau về đầu tư trực tiếp nước ngoài, tuỳ thuộc vào mục đích và góc độ nhìn nhận khác nhau: - Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một hoạt động đầu tư nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp (IMF,1993). - Theo OECD (2008), FDI phản ánh những lợi ích khách quan lâu dài mà một thực thể tại một nước (nhà đầu tư) đạt được thông qua một cơ sở kinh tế tại một nền kinh tế khác. Lợi ích lâu dài thể hiện ở chỗ tồn tại một mối quan hệ dài hạn giữa nhà đầu tư trực tiếp với doanh nghiệp và một mức độ ảnh hưởng đáng kể trong việc quản lý doanh nghiệp đó. Đầu tư trực tiếp liên quan đến cả giao dịch ban đầu giữa hai thực thể và mọi giao dịch vốn tiếp theo giữa chúng và giữa các công ty con, dù có tư cách pháp nhân hay không có tư cách pháp nhân.
- Theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài ngày 09/6/2000 thì đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của luật này. - Luật Đầu tư (2005) có các khái niệm về “đầu tư”, “đầu tư trực tiếp”, “đầu tư nước ngoài”, “đầu tư ra nước ngoài” nhưng không có khái niệm “đầu tư trực tiếp nước ngoài”. Tuy nhiên, từ các khái niệm quy định trong Luật Đầu tư 2005 6 thì có thể hiểu FDI là hình thức đầu tư do nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư ở Việt Nam hoặc nhà đầu tư Việt Nam bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư ở nước ngoài theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan. - Theo quy định của Luật Đầu tư (2014) thì các khái niệm về “đầu tư trực tiếp”, “đầu tư nước ngoài”, “đầu tư ra nước ngoài” đã bị bãi bỏ, chỉ còn khái niệm về “đầu tư kinh doanh” và “nhà đầu tư nước ngoài”.
Theo đó có thể hiểu đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư tại Việt Nam. Từ các quan niệm trên, có thể hiểu FDI là một hình thức đầu tư quốc tế, trong đó nhà đầu tư nước ngoài đóng góp một số vốn nhất định (theo quy định của nước tiếp nhận đầu tư) vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh hoặc dịch vụ, cho phép họ trực tiếp tham gia điều hành đối tượng mà họ tự bỏ vốn đầu tư. Khái niệm về bất bình đẳng thu nhập Có nhiều quan điểm khác nhau về bất bình đẳng thu nhập, nhưng đơn giản và chung nhất có thể hiểu bất bình đẳng thu nhập là sự không ngang bằng nhau về thu nhập giữa các cá nhân hoặc nhóm xã hội. Theo OECD (2011), bất bình đẳng thu nhập phản ánh cách thức phân phối các nguồn lực vật chất trong xã hội.
Trong Sổ tay về nghèo đói và bất bình đẳng của World Bank (2009), Houghton & Kandker cho rằng bất bình đẳng là một khái niệm đi liền với nghèo đói, nhưng có nội hàm rộng hơn. Trong khái niệm nghèo đói, mối quan tâm thường tập trung vào mức thu nhập hoặc chi tiêu bình quân đầu người và phân phối thu nhập trên chi tiêu của nhóm có thu nhập thấp nhất; trong khi đó bất bình đẳng quan tâm tới phân phối thu nhập của toàn bộ dân số. Đo lƣờng bất bình đẳng trong phân phối thu nhập 7 - Tỷ lệ Q5/Q1: các nhà kinh tế và thống kê thường sắp xếp các cá nhân theo mức thu nhập tăng dần, rồi chia tổng dân số thành các nhóm. Một phương pháp thường được sử dụng là chia dân số thành 5 nhóm có qui mô như nhau theo mức thu nhập tăng dần, rồi xác định xem mỗi nhóm nhận được bao nhiêu phần trăm của tổng thu nhập (ngũ phân vị).
Nếu thu nhập được phân phối đều cho các gia đình, thì mỗi nhóm gia đình sẽ nhận được 20% thu nhập. Nếu tất cả thu nhập chỉ tập trung vào một vài gia đình, thì hai mươi phần trăm gia đình có thu nhập cao nhất sẽ nhận tất cả thu nhập, và các nhóm gia đình khác không nhận được gì. Khi đo lường mức độ bất bình đẳng, một cách áp dụng khá hiệu quả cách định lượng này là tính chỉ tiêu tỉ lệ thu nhập bình quân của nhóm 20% hộ gia đình giàu nhất với thu nhập bình quân của nhóm 20% hộ gia đình nghèo nhất. - Đường cong Lorenz: đường cong Lorenz mang tên nhà kinh tế học người Mỹ Coral Lorenz, mô phỏng tương quan giữa nhóm thu nhập cao nhất với nhóm thu nhập thấp nhất, biểu thị mối quan hệ định lượng thực tế giữa tỉ lệ phần trăm của số người có thu nhập và tỉ lệ phần trăm thu nhập mà họ nhận được.
Đường Lorenz càng xa đường chéo thì thu nhập được phân phối càng bất bình đẳng. Thu nhập 100 80 60 40 20 20 40 60 80 %dân số Nguồn: Vũ Thị Ngọc Phùng (2005) Hình 1. Đƣờng Lorenz và hệ số Gini 8 - Hệ số Gini: đây là thước đo phổ biến và được sử dụng nhiều nhất, hệ số Gini được tính theo công thức Gini = 1- Trong đó, Fi là phần trăm cộng dồn dân số đến người thứ i, Yi là phần trăm cộng dồn thu nhập đến người thứ i. Hệ số Gini cũng có thể được tính trên cơ sở đường Lorenz, bằng tỉ số của phần diện tích nằm giữa đường chéo và đường Lorenz so với tổng diện tích của nửa hình vuông chứa đường cong đó.1 đó là tỉ lệ giữa phần diện tích A so với tổng diện tích A +B.
Hệ số GINI có thể dao động trong phạm vi 0 (hoàn toàn bình đẳng: mọi người có mức thu nhập giống nhau) và 1 (hoàn toàn bất bình đẳng: một số ít người nhận được tất cả, còn những người khác không nhận được gì), hoặc từ 0% đến 100% nếu đo theo phần trăm. Theo ngân hàng thế giới, nếu hệ số GINI lớn hơn 0,5 là mức độ bất công bằng lớn; nằm trong khoảng từ 0,4 - 0,5 là bất công bằng vừa và nhỏ hơn 0,4 là bất công bằng chấp nhận được. - Hệ số Kuznets: hệ số này so sánh % khoảng cách về thu nhập giữa % dân số giàu nhất và % dân số nghèo nhất; được tính bằng tỷ lệ % giữa thu nhập của X% dân số có mức thu nhập cao nhất và Y% dân số có mức thu nhập cao nhất. Nếu X=Y, có thể bằng 20%, 10%, 5% thì có hệ số giãn cách thu nhập, phản ánh khoảng cách thu nhập giữa hai đầu nghèo nhất và giàu nhất.
- Tiêu chuẩn 40% của Ngân hàng thế giới: Tiêu chuẩn này xét tỷ trọng thu nhập của 40% dân số có thu nhập thấp nhất trong tổng thu nhập của toàn bộ dân cư. Tỷ trọng này nhỏ hơn 12% là có sự bình đẳng cao về thu nhập, nằm trong khoảng từ 12% - 17% là có sự bất bình đẳng vừa và lớn hơn 17% là có sự tương đối bình đẳng. - Chỉ số Theil: theo Hoàng Thị Thanh Hà (2013), chỉ số Theil có hai loại là Theil T và Theil L, cả hai chỉ số này được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng để đo lường bất bình đẳng thu nhập hoặc chi tiêu. 9 Chỉ số Theil có thể viết dưới dạng sau: yi n yi Y 1 n yi yi Theil (T ) log log i 1 Y 1n n i 1 Theil L = trong đó: yi = thu nhâp của i (i = 1,2 …n); n = tổng số hộ trong tổng thể nghiên cứu; Y= tổng thu nhập của toàn bộ các hộ; µ = thu nhập bình quân của tất cả các hộ.
Các lý thuyết chính về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài - Lý thuyết thƣơng mại quốc tế: Lý thuyết thương mại cổ điển được khởi xướng bởi Adam Smith (1776). Tác giả này cho rằng thương mại giữa hai nước với nhau là xuất phát từ lợi ích của cả hai bên dựa trên cơ sở lợi thế tuyệt đối của từng nước.