Chương 1: Trong chương này tác giả trình bày tổng quan đề tài nghiên cứu bao gồm tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, kết cấu luận văn giúp người đọc có cái nhìn sơ lược về đề tài. Chương 2: Trong chương tác giả trình bày các khái niệm tổng quan liên quan đến đầu tư công, tăng trưởng kinh tế và tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế. Ngoài các cơ sở lý thuyết từ quan điểm cổ điển, tân cổ điển đến các quan điểm hiện đại, tác giả còn dựa vào các nghiên cứu trước đây nhằm khái quát vấn đề nghiên cứu và chiều hướng của chúng. Đây chính là cơ sở tiền đề để nghiên cứu các chương tiếp theo.
Chương 3: Tác giả trình bày bối cảnh nghiên cứu của đề tài là tỉnh Tây Ninh, từ đó phân tích các thuận lợi khó khăn của tỉnh để phát triển kinh tế hiện nay. Đồng thời cũng phân tích thực trạng đầu tư công, tăng trưởng kinh tế và tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế của tỉnh Tây Ninh thông qua hệ số ICOR. Từ đó đánh giá công tác đầu tư tại tỉnh Tây Ninh trong giai đoạn 1986 đến 2015. 4 Chương 4: Tác giả trình bày phương pháp và kết quả nghiên cứu của đề tài.
Bài này thu thập dữ liệu về tổng vốn đầu tư khu vực công, tổng GDP thông qua niên giám thống kê của tỉnh Tây Ninh trong giai đoạn từ năm 1986-2015. Từ đó, tác giả tiến hành kiểm định tính dừng, nếu chuỗi không dừng sẽ lấy sai phân và xem xét tính dừng của chuỗi sai phân; lựa chọn độ trễ tối ưu ước lượng mô hình VAR; thực hiện kiểm định nhân quả Granger, phản ứng đẩy, phân rã phương sai trong VAR để đánh giá mối quan hệ giữa đầu tư công và tăng trưởng kinh tế; cuối cùng kiểm định tính ổn định của mô hình. Chương 5: Trình bày kết quả nghiên cứu cho thấy có sự tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế tỉnh Tây Ninh. Bên cạnh đó trình bày các hàm ý các giải pháp khuyến nghị giúp tỉnh Tây Ninh quản lý tốt công tác đầu tư công góp phần phát triển kinh tế trong thời gian tới.8 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Đầu tư công đóng vai trò quan trọng vào tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo công ăn việc làm ổn định.
Trong bối cảnh nền kinh tế diễn biến phức tạp như hiện nay thì đầu tư công càng nổi bật vai trò duy trì động lực tăng trưởng kinh tế và góp phần đảm bảo an sinh xã hội thông qua các gói kích cầu của Chính phủ. Tuy nhiên do đặc điểm tính chất nguồn vốn và mục tiêu đầu tư, nên đầu tư công có hiệu quả kinh tế không cao. Trong những năm gần đây số vốn đầu tư công của tỉnh ngày càng tăng, do đó việc xác định mối quan hệ giữa đầu tư công và tăng trưởng kinh tế để từ đó ra những quyết định về chính sách là rất quan trọng. Một số nghiên cứu trước đây đã đánh giá hiệu quả đầu tư công của một quốc gia nhưng chưa nghiên cứu trên địa bàn tỉnh, ngoài ra chỉ đánh giá định tính thông qua thực trạng.
Do đó, nghiên cứu này kế thừa thành quả của các nghiên cứu trong và ngoài nước trước đây và bổ sung thêm yếu tố lao động nhằm phân tích rõ hơn mối quan hệ giữa đầu tư công và tăng trưởng kinh tế tại tỉnh Tây Ninh bằng các kiểm định trong mô hình VAR. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm của luận văn sẽ góp thêm cơ sở khoa học, và là tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý nhà nước tại tỉnh Tây Ninh trong quá trình ra các quyết định liên 5 quan đến đầu tư công, là tài liệu trong nghiên cứu và giảng dạy những nội dung có liên quan trong các trường đại học, cao đẳng sau này của tỉnh nhà. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương 2 trình bày tóm lược cơ sở lý thuyết của đề tài bao gồm: tổng quan về đầu tư công, tổng quan về tăng trưởng kinh tế, tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế. Bên cạnh đó, tác giả cũng trình bày tổng lược một số nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước về tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế.1 Tổng quan về đầu tư công và tăng trưởng kinh tế 2.1 Khái niệm đầu tư công Theo Trần Đình Thiên (2012), hiện tại "đầu tư công" vẫn được quan niệm một cách khá đơn giản: nó bao gồm tất cả các khoản đầu tư do chính phủ và các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế nhà nước tiến hành.
Đầu tư công được xét không phải từ góc độ mục đích mà từ góc độ tính sở hữu của nguồn vốn dùng để đầu tư. Vũ Thành Tự Anh (2012), đầu tư công là đầu tư khu vực nhà nước bao gồm đầu tư từ ngân sách (phân cho các bộ ngành và cho các địa phương), đầu tư theo chương trình mục tiêu quốc gia, tín dụng đầu tư (thường được ưu đãi) và đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước. Luật đầu tư công (2014), đầu tư công là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Như vậy, đầu tư công là đầu tư bằng nguồn vốn nhà nước theo quy định của pháp luật hiện hành, bao gồm: vốn ngân sách nhà nước, vốn tín dụng do nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước, vốn đầu tư phát triển của các doanh nghiệp nhà nước và các vốn khác do nhà nước quản lý.
Đây là cách hiểu phổ biến hơn cả và cũng là đối tượng của chính sách đầu tư của nhà nước hiện nay.2 Khái niệm tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm), bản chất của tăng trưởng là phản ánh sự gia tăng về mặt lượng của một nền kinh tế. Nó được đo bằng nhiều chỉ tiêu khác nhau, như tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốc dân (GNP) hay thu nhập bình 7 quân đầu người trên năm (GDP/người/năm, GNP/người/năm). Tốc độ tăng trưởng kinh tế là mức (%) được tăng thêm của sản lượng GNP, GDP, GDP/người hay GNP/người của năm này so với năm trước hay giai đoạn này so với giai đoạn trước. Với ý nghĩa này, tăng trưởng kinh tế là mục tiêu theo đuổi của mọi quốc gia, mọi nền kinh tế trước yêu cầu tồn tại và phát triển (Vũ Thị Ngọc Phùng, 2006).3 Nguồn vốn đầu tư công Nguồn vốn đầu tư công bao gồm các loại sau: nguồn vốn trong nước và nguồn vốn từ nước ngoài.
Nguồn vồn đầu tư của khu vực công: nguồn đầu tư của nhà nước (Ig) được xác định theo công thức sau: Ig = (T - Cg) + Fg Trong đó: T là các khoản thu của khu vực nhà nước; Cg là các khoản chi tiêu của khu vực nhà nước không kể chi đầu tư (Chênh lệch giữa khoản thu và chi này là tiết kiệm của khu vực nhà nước); Fg là các khoản viện trợ và vay nợ từ nước ngoài vào khu vực nhà nước. Ta thấy đầu tư của khu vực nhà nước được tài trợ bởi ba nguồn sau: + Nguồn vốn huy động từ khu vực doanh nghiệp và cá nhân hoặc các tổ chức tài chính trung gian. Hình thức huy động này được thực hiện bằng việc phát hành trái phiếu nhà nước. + Nguồn tiết kiệm của khu vực nhà nước bằng tổng thu ngân sách nhà nước trừ tổng chi thường xuyên.
Trong trường hợp các nước kém phát triển thì khoản tiết kiệm này rất hạn chế, không đủ đáp ứng nguồn vốn đầu tư lớn cho phát triển, nhất là vào lĩnh vực kết cấu hạ tầng. + Nguồn vốn hỗ trợ nước ngoài, nguồn vốn này có vai trò khá quan trọng đối với các nước kém phát triển. Các nguồn từ nước ngoài thường dưới dạng viện trợ hoặc nợ.4 Đối tượng đầu tư Đầu tư công hỗ trợ việc tạo ra các dịch vụ công cộng là chính như: xây dựng trường học, bệnh viện, nhà công,…gọi chung là cơ sở hạ tầng xã hội. Đầu tư công cũng hỗ trợ công dân và các công ty các cơ hội kinh tế thông qua việc cung cấp các cơ sở hạ 8 tầng kinh tế như: sân bay và cảng biển, mạng lưới truyền thông, giao thông, điện năng,… gọi chung là cơ sở hạ tầng kinh tế.
Như vậy, đối tượng đầu tư công bao gồm các dự án, chương trình kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội; đây được xem như là chất xúc tác quan trọng để phát triển kinh tế1 Theo Luật đầu tư công (2014), lĩnh vực đầu tư công bao gồm: (i) Đầu tư chương trình, dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; (ii) Đầu tư phục vụ hoạt động của cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; (iii) Đầu tư và hỗ trợ hoạt động cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích; (iv) Đầu tư của nhà nước tham gia thực hiện dự án theo hình thức đối tác công tư.2 Các quan điểm về đầu tư công 2.1 Quan điểm trường phái tân cổ điển Richard D. Wolff and Stephen A. Resnick (2012), quan điểm của trường phái tân cổ điển cho rằng nhà nước không nên can thiệp vào nền kinh tế trong quá trình phân bổ nguồn lực như vốn và lao động, … mà sự vận động của thị trường sẽ thực hiện tốt hơn vai trò này. Trường phái này khẳng định là một trong các ưu điểm của kinh tế thị trường đó là sự phân bổ nguồn lực một cách tự động hay qua bàn tay vô hình của thị trường.
Đầu tư là một hình thức phân bổ nguồn lực trong các hình thức đó - phân bổ vốn trong nền kinh tế. Theo lý thuyết này, các đơn vị sản xuất trong nền kinh tế trong quá trình tìm đến điểm tối đa hoá lợi nhuận sẽ tìm kiếm cơ hội đầu tư tốt nhất cho chính mình, và như vậy nhà nước không cần can thiệp để tạo ra một cơ cấu đầu tư hợp lý cho doanh nghiệp vì bản thân doanh nghiệp biết rõ hơn ai hết là cần phải làm gì để đạt lợi ích tốt nhất cho chính doanh nghiệp.