Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng (mã số 9340201) của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Kim Chung, thực hiện tại Học viện Ngân hàng dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Đào Minh Phúc và PGS. Lê Thị Tuấn Nghĩa (năm 2021), mang tiêu đề: "Tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế và lạm phát tại Việt Nam".

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Đầu tư công giữ vai trò là một trong những công cụ tài khóa chủ đạo của Chính phủ nhằm tác động đến hệ thống kinh tế, gia tăng tích lũy vốn vật chất và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dài hạn (Tanzi và Zee, 1997). Tại Việt Nam, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, đầu tư công đóng góp trực tiếp vào phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội. Sau hơn 35 năm đổi mới kể từ năm 1986, nền kinh tế ghi nhận mức tăng trưởng liên tục: quy mô GDP năm 2019 gấp 12,5 lần năm 2001; giai đoạn 2001–2010 GDP tăng bình quân 7,26%/năm; giai đoạn 2011–2019 tăng bình quân 6,3%/năm (năm 2018 đạt 7,08%); quy mô GDP tăng từ 116 tỷ USD năm 2010 lên 268,4 tỷ USD năm 2020.

Tuy nhiên, song hành cùng tăng trưởng kinh tế, việc kiểm soát lạm phát và nâng cao hiệu quả phân bổ vốn đầu tư công bộc lộ nhiều thách thức:

  • Biến động lạm phát: Giai đoạn 1999–2001 lạm phát duy trì mức thấp (năm 2000 giảm phát -0,6%); giai đoạn 2002–2003 dao động từ 3% đến 4%; giai đoạn 2004–2006 tăng lên mức 6,6%–9,5%; đặc biệt giai đoạn 2007–2008 lạm phát tăng vọt lên hai con số (12,36% năm 2007 và 24,4% năm 2008) do ảnh hưởng cộng hưởng từ giá dầu, lương thực thế giới và các yếu tố tiền tệ trong nước; sau đó giảm về 7% năm 2009 và duy trì ổn định một con số trong giai đoạn 2010–2019.
  • Hiệu quả sử dụng vốn: Tốc độ tăng vốn đầu tư công ở một số giai đoạn (1996, 1998–2000, 2017) cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP. Hệ số ICOR của tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2007–2019 ở mức trên 6, vượt ngưỡng mục tiêu tối đa là 5 được đề ra trong Chiến lược Phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011–2020.
  • Khoảng trống nghiên cứu: Các công trình trong nước trước đây thường tách rời việc nghiên cứu tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế hoặc tác động của đầu tư công đến lạm phát, thiếu vắng các nghiên cứu thực nghiệm kiểm định đồng thời cả hai khía cạnh này trên cùng một chuỗi dữ liệu chuỗi thời gian dài hạn kéo dài từ mốc mở cửa hội nhập năm 1995 đến năm 2019.

Mục tiêu nghiên cứu

  • Mục tiêu chung: Phân tích sự tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế và lạm phát ở Việt Nam; từ đó đề xuất các giải pháp để phát huy hiệu quả chi đầu tư công, đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát trong thời gian tới.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Phân tích, đánh giá kinh nghiệm một số nước điển hình về tác động của đầu tư công với tăng trưởng kinh tế và lạm phát, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
    2. Tổng kết lý thuyết về tác động của đầu tư công với tăng trưởng kinh tế và lạm phát.
    3. Đánh giá thực trạng đầu tư công của Việt Nam giai đoạn 1995–2019.
    4. Phân tích và đánh giá thực trạng tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế và tác động của đầu tư công đến lạm phát ở Việt Nam.
    5. Gợi ý các chính sách và giải pháp về đầu tư công để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và kiểm soát tốt lạm phát tại Việt Nam trong thời gian tới.

Câu hỏi nghiên cứu

  1. Thực trạng đầu tư công của Việt Nam giai đoạn 1995–2019 như thế nào?
  2. Đầu tư công tác động đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam giai đoạn 1995–2019 như thế nào?
  3. Đầu tư công tác động đến lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 1995–2019 như thế nào?
  4. Cần các giải pháp gì để tăng cường vai trò tích cực của vốn đầu tư tới tăng trưởng kinh tế của Việt Nam và kiểm soát tốt lạm phát trong thời gian tới?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế; tác động của đầu tư công đến lạm phát tại Việt Nam.
  • Phạm vi không gian: Bối cảnh kinh tế vĩ mô của Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu lý luận và thực trạng dữ liệu giai đoạn 1995–2019; các đề xuất giải pháp có định hướng đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào tác động một chiều của vốn đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế và tác động của đầu tư công đến lạm phát, kết hợp các biến kiểm soát trong mô hình kinh tế lượng.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo hai mạch vấn đề chính:

Hướng nghiên cứu về tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế

  • Tác động tích cực (dương): Aschauer (1989), Munnell và Cook (1990), Khan và Kumar (1997), Komain và Brahmasrene (2007), Bukhari và Saddaqat (2007), Eruygur (2009) khẳng định đầu tư công vào hạ tầng làm tăng năng suất và sản lượng. Khan (1996) khảo sát dữ liệu 95 quốc gia đang phát triển giai đoạn 1970–1990 chỉ ra cả đầu tư công và đầu tư tư nhân đều thúc đẩy tăng trưởng, trong đó đầu tư tư nhân có tác động biên mạnh hơn. Barro (1990), Devarajan, Swaroop và Zou (1996), Davoodi và Zou (1998) tiếp cận hàm sản xuất Cobb-Douglas để phân rã chi tiêu chính phủ. Tại Việt Nam, Tô Trung Thành (2012) dùng mô hình VECM giai đoạn 1986–2010 chỉ ra đầu tư nhà nước và tư nhân đều tác động cùng chiều đến GDP; Nguyễn Quang Trung và Trần Phạm Khánh Toàn (2014) ghi nhận tác động của đầu tư công và lao động tại Đông Nam Á; Trần Nguyễn Ngọc Anh Thư và Lê Hoàng Phong (2014) dùng mô hình ARDL khẳng định đầu tư công thúc đẩy tăng trưởng trong dài hạn dù ngắn hạn không có ý nghĩa thống kê.
  • Tác động âm trong ngắn hạn, dương trong dài hạn: Ellahi và Kiani (2011) sử dụng mô hình ARDL trên chuỗi dữ liệu Pakistan giai đoạn 1975–2009; Cristian và cộng sự (2011) ghi nhận xu hướng đầu tư công gây áp lực ngắn hạn nhưng phát huy hiệu ứng tích cực dài hạn khi vốn hình thành tài sản cố định.
  • Tác động dương trong ngắn hạn, triệt tiêu trong dài hạn: Sturm và cộng sự (1999); Phạm Thế Anh (2008) sử dụng phương pháp OLS trên dữ liệu cấp tỉnh ở Việt Nam giai đoạn 2001–2005 chỉ ra chi đầu tư cho giao thông, giáo dục có hệ số tác động dương ngắn hạn lần lượt là 0,50 và 0,47.
  • Không tìm thấy mối quan hệ: Landau (1986), Swaby (2007), Roache (2007); Nguyễn Đức Minh (2012) với trường hợp nghiên cứu tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Hướng nghiên cứu về tác động của đầu tư công đến lạm phát

  • Tác động làm giảm lạm phát: Rosser (1983) nghiên cứu giai đoạn 1970–1980 tại Saudi Arabia; Looney (1990) chỉ ra đầu tư công hoàn thiện hạ tầng làm giảm chi phí lưu thông, từ đó giảm áp lực lạm phát; Nguyễn Lưu Viết Quân (2013) ghi nhận mối quan hệ ngược chiều giữa đầu tư công và lạm phát tại Việt Nam trong cả ngắn hạn và dài hạn.
  • Tác động làm tăng lạm phát: McClain và Nichols (1994) áp dụng mô hình hiệu chỉnh sai số cho dữ liệu Hoa Kỳ 1929–1987; Piotr Ciżkowicz và Andrzej Rzońca (2010) sử dụng hồi quy đa biến dữ liệu bảng 21 quốc gia OECD giai đoạn 1960–2005.
  • Các yếu tố vĩ mô khác chi phối lạm phát:
    • Cung tiền và tiền tệ hóa: Friedman (1970), Kwon (2006) trên 42 quốc gia; Camen (2006); Nguyễn Anh Phong và Nguyễn Duy Hiệp (2017) dùng mô hình VAR chỉ ra cung tiền làm tăng lạm phát tại Việt Nam giai đoạn 2004–2016; trong khi Trương Quang Hùng và Nguyễn Hoài Bảo (2004), Lê Việt Hùng và Wade (2008) cho rằng trong ngắn hạn cung tiền không có quan hệ chặt chẽ với lạm phát.
    • Giá dầu và chi phí nhập khẩu: Farhad và Naoyuki (2015) dùng mô hình SVAR; Phạm Thị Thu Trang (2009) chỉ ra cú sốc tăng giá dầu làm lạm phát gia tăng ngay và kéo dài 3 tháng sau đó; Vương Thị Thảo Bình (2009).
    • Tâm lý kỳ vọng và quán tính lạm phát: Nguyễn Thị Thu Hằng và Nguyễn Đức Thành (2010), Phạm Thế Anh (2008) khẳng định lạm phát quá khứ và độ lệch sản lượng giải thích biến động lạm phát nội địa lớn hơn tác động giá dầu.
    • Tỷ giá hối đoái: Kim (2001), Ito và Sato (2006), Võ Trí Thành và cộng sự (2001), Phan Thị Hồng Hải (2005) khẳng định sự mất giá của đồng nội tệ tạo áp lực tăng CPI ở các quý tiếp theo.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Luận án giải quyết khoảng trống học thuật bằng việc thiết lập khung phân tích tích hợp: đánh giá đồng thời tác động một chiều của đầu tư công tới cả tăng trưởng kinh tế (GDP thực) và tỷ lệ lạm phát (CPI) của Việt Nam trong suốt 25 năm (1995–2019). Luận án đưa các biến vĩ mô quan trọng (đầu tư tư nhân, FDI, lao động, cung tiền nội tệ, giá dầu thế giới) vào cấu trúc mô hình vectơ tự hồi quy (VAR) để kiểm soát các tác động chéo.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Khái niệm đầu tư công: Tổng hợp định nghĩa của World Bank (chi tiêu tích lũy vốn vật chất khu vực công), OECD (hạ tầng vật chất và hạ tầng mềm có thời hạn sử dụng trên 1 năm), IMF (2012), UNCTAD, Viện Chính sách kinh tế Hoa Kỳ (2011), và Luật Đầu tư công Việt Nam số 39/2019/QH14 (khoản 15, khoản 22 Điều 4; Điều 5 quy định về đối tượng đầu tư công và nguồn vốn ngân sách nhà nước, công trái, trái phiếu Chính phủ). Luận án xác định đầu tư công là hoạt động đầu tư của Nhà nước từ nguồn vốn Ngân sách nhà nước hoặc có nguồn gốc từ ngân sách, vì mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
  • Khái niệm tăng trưởng kinh tế và lạm phát:
    • Tăng trưởng kinh tế: Tiếp cận theo Simon Kuznets (1954), Paul Samuelson, Nguyễn Trọng Hoài (2007), đo lường bằng quy mô và tốc độ tăng trưởng của Tổng sản phẩm trong nước (GDP) theo giá so sánh năm 2010.
    • Lạm phát: Tiếp cận theo Samuelson và Nordhaus (1989), IMF, World Bank, đo lường chủ yếu qua Chỉ số giá tiêu dùng (CPI). Phân loại mức độ gồm: lạm phát vừa phải (dưới 10%/năm), lạm phát phi mã (2-3 chữ số), siêu lạm phát. Các nguyên nhân gồm: lạm phát do cầu kéo, do chi phí đẩy, do cơ cấu, do cầu thay đổi, do xuất khẩu, do nhập khẩu và do phát hành tiền tệ.
  • Các kênh và cơ chế tác động:
    • Kênh bổ sung và kích thích đầu tư tư nhân (Crowding-in) hoặc chèn lấn (Crowding-out): Dựa trên mô hình Barro (1990) gồm 3 giai đoạn: (1) Giai đoạn kích thích; (2) Giai đoạn chèn lấn hiệu quả; (3) Giai đoạn chèn lấn phi hiệu quả.
    • Kênh tổng cầu Keynes: $Y = C + I_g + I_p + NX$, chi đầu tư công trực tiếp làm tăng tổng cầu trong ngắn hạn.
    • Kênh tiết kiệm quốc gia và định lý tương đương Ricardo: Tiếp cận theo Barro (1974), Lensink và White (2001).
    • Kênh địa lý kinh tế mới: Fujita và cộng sự (2001), Easterly và Rebelo (1993), Milbourne và cộng sự (2003) giải thích vai trò của hạ tầng giao thông và viễn thông trong giảm chi phí vận chuyển.
    • Giả thuyết "White Elephant": Pritchett (1996) chỉ ra nguy cơ lãng phí khi đầu tư công phân bổ vào các dự án phi hiệu quả kinh tế.
    • Cơ chế tác động lên lạm phát: Khuôn khổ tổng cung - tổng cầu (AS-AD), thị trường vốn - đường IS, cơ chế tiền tệ hóa thâm hụt tài khóa của ngân hàng trung ương (Bernstein 1936, Eltis 1983).

Phương pháp nghiên cứu

  • Nghiên cứu định tính: Phương pháp kế thừa, tổng hợp tài liệu, thống kê mô tả (tính giá trị trung bình, tỷ trọng %, tốc độ tăng trưởng), phân tích so sánh và phân tích lịch sử để đánh giá thực trạng đầu tư công, tăng trưởng, lạm phát và tổng kết kinh nghiệm từ 3 quốc gia: Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc.
  • Nghiên cứu định lượng: Áp dụng mô hình Vectơ tự hồi quy (VAR - Vector Autoregression) do Sims (1980) đề xuất. Quy trình kiểm định định lượng bao gồm:
    1. Thống kê mô tả dữ liệu.
    2. Kiểm định tính dừng/nghiệm đơn vị của chuỗi dữ liệu (Unit Root Test).
    3. Lựa chọn độ trễ tối ưu ($p$) cho mô hình VAR dựa trên các tiêu chí AIC, SC, HQ.
    4. Kiểm định chẩn đoán khuyết tật: kiểm định độ ổn định (AR Roots Table/Graph) và kiểm định tự tương quan chuỗi của phần dư (Lagrange Multiplier / Autocorrelation LM Test).
    5. Ước lượng mô hình VAR.
    6. Kiểm định quan hệ nhân quả Granger (Granger Causality Test).
    7. Phân tích hàm phản ứng xung (Impulse Response Function - IRF).
    8. Phân tích phân rã phương sai (Variance Decomposition).

Nguồn tư liệu và mô tả dữ liệu

  • Luận án sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian theo quý giai đoạn 1995–2019 ($N = 100$ quan sát).
  • Nguồn thu thập: Tổng cục Thống kê (GSO), Ngân hàng Thế giới (World Bank), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB).
Mô hình Biến phụ thuộc / Trọng tâm Biến giải thích và biến kiểm soát Dấu kỳ vọng
Mô hình 1 (Tăng trưởng kinh tế) LNGDP: Logarit GDP thực tế (giá so sánh 2010) LNIG: Logarit vốn đầu tư công
LNIP: Logarit vốn đầu tư ngoài quốc doanh
LNIF: Logarit vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
LNLAB: Logarit lực lượng lao động
LNIG (+)
LNIP (+)
LNIF (+)
LNLAB (+)
Mô hình 2 (Lạm phát) INF: Tỷ lệ lạm phát (tính từ CPI) LNIG: Logarit vốn đầu tư công
LNIP: Logarit vốn đầu tư ngoài quốc doanh
LNLCU: Logarit cung tiền mở rộng nội tệ ($M_2$)
LNOILP: Logarit giá dầu thế giới
LNIG (+/-)
LNIP (+)
LNLCU (+)
LNOILP (+)

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế và lạm phát

Chương 1 thiết lập nền tảng lý thuyết toàn diện về ba cấu phần: đầu tư công, tăng trưởng kinh tế và lạm phát. Tác giả phân tích các nguồn hình thành vốn đầu tư công bao gồm: vốn ngân sách nhà nước (trung ương và địa phương), vốn trái phiếu chính phủ/công trái, vốn ODA, vốn vay ưu đãi, và vốn tự có của các doanh nghiệp nhà nước. Tác giả làm rõ các cơ chế truyền dẫn qua kênh tổng cầu Keynes ($Y = C + I + G + NX$), hiệu ứng bổ sung và chèn lấn đầu tư tư nhân theo lý thuyết Barro (1990), hiệu ứng mở rộng thị trường theo kinh tế học địa lý mới (Fujita và cs, 2001), và nguy cơ thất thoát vốn theo giả thuyết "White Elephant" của Pritchett (1996).

Đối với lạm phát, chương này phân tích cơ chế truyền dẫn từ việc mở rộng đầu tư công qua áp lực cầu kéo, sự gia tăng cung tiền để tài trợ thâm hụt và tác động dịch chuyển đường IS - tổng cầu. Phần kinh nghiệm quốc tế đi sâu phân tích ba mô hình:

  • Singapore: Quản lý chi tiêu công tập trung, phân bổ vốn ngân sách có trọng tâm vào cơ sở hạ tầng chiến lược, công nghệ cao, nhà ở xã hội và dịch vụ công; danh mục đầu tư công giai đoạn 2006–2018 kiểm soát chặt chẽ thâm hụt.
  • Nhật Bản: Giai đoạn đẩy mạnh đầu tư công phát triển hạ tầng giao thông (shinkansen, đường cao tốc) tạo động lực tăng trưởng thời kỳ hậu chiến, nhưng giai đoạn sau việc duy trì tỷ lệ đầu tư công cao trong bối cảnh già hóa dân số làm tăng nợ công và giảm hiệu quả biên.
  • Hàn Quốc: Kết hợp kế hoạch hóa đầu tư công với sự phát triển của khu vực tư nhân, thành lập Trung tâm Quản lý đầu tư cơ sở hạ tầng công và tư (PIMAC) để thẩm định tính khả thi dự án, cơ cấu chi tiêu chuyển dịch mạnh sang dịch vụ kinh tế và công nghệ hỗ trợ xuất khẩu. Từ đó, tác giả rút ra các bài học cho Việt Nam về thẩm định dự án, kiểm soát hiệu quả vốn vay và hoàn thiện thể chế quản lý tài chính công (PFM).

Chương 2: Thực trạng tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế và lạm phát tại Việt Nam giai đoạn 1995-2019

Chương 2 trình bày bức tranh thực nghiệm kinh tế vĩ mô Việt Nam qua 25 năm.

  • Về đầu tư công: Cơ cấu vốn đầu tư toàn xã hội có sự chuyển dịch rõ rệt: tỷ trọng vốn đầu tư nhà nước giảm dần nhưng vẫn giữ tỷ lệ lớn, trong khi khu vực ngoài nhà nước và khu vực FDI tăng nhanh. Về phân cấp, tỷ trọng vốn do địa phương quản lý có xu hướng tăng so với trung ương.
  • Về tăng trưởng và lạm phát: GDP tăng trưởng liên tục, đưa quy mô nền kinh tế năm 2019 gấp 12,5 lần năm 2001. Lạm phát trải qua các chu kỳ biến động lớn: ổn định rất thấp/giảm phát giai đoạn 1999–2001 (-0,6% năm 2000), tăng mạnh giai đoạn 2004–2006, đạt đỉnh hai con số năm 2007 (12,36%) và năm 2008 (24,4%), sau đó được kiểm soát về mức 7% năm 2009 và duy trì ổn định dưới 5% trong giai đoạn 2011–2019.
  • Về hiệu quả đầu tư công: Hệ số ICOR của khu vực nhà nước giai đoạn 2006–2016 cao hơn giai đoạn 1996–2005. Mặc dù ICOR đầu tư công tính riêng có giai đoạn $< 3$, nhưng ICOR tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2007–2019 ở mức $> 6$, cao hơn mức trần mục tiêu 5 của Chiến lược Phát triển bền vững 2011–2020.
  • Nguyên nhân hạn chế: Quy hoạch ngành và quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội còn thiếu đồng bộ; kế hoạch đầu tư công trung hạn và hàng năm chưa sát thực tế; công tác giải ngân chậm; cơ chế phối hợp và giám sát dự án còn lỏng lẻo, tạo áp lực lên thâm hụt ngân sách và lạm phát.

Chương 3: Kiểm định tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế và lạm phát tại Việt Nam qua mô hình VAR

Chương 3 thực hiện ước lượng kinh tế lượng với chuỗi số liệu theo quý ($N = 100$ quan sát) giai đoạn 1995–2019 qua phần mềm phân tích.

  • Kiểm định sơ bộ: Kiểm định nghiệm đơn vị chỉ ra các chuỗi dữ liệu đều dừng ở sai phân bậc 1 ($I(1)$). Tiêu chí lựa chọn độ trễ xác định độ trễ tối ưu cho cả hai mô hình là $p = 5$. Kiểm định tính ổn định cho thấy tất cả các nghiệm nghịch đảo của đa thức đặc trưng AR đều nằm trong vòng tròn đơn vị. Kiểm định tự tương quan LM của phần dư xác nhận không có hiện tượng tự tương quan chuỗi.
  • Kết quả Mô hình 1 (Đầu tư công và Tăng trưởng kinh tế - LNGDP):
    • Ước lượng VAR với độ trễ $p = 5$ khẳng định vốn đầu tư công (LNIG), vốn đầu tư tư nhân (LNIP), vốn FDI (LNIF) và lực lượng lao động (LNLAB) có tác động tích cực đến tăng trưởng GDP.
    • Kiểm định nhân quả Granger xác nhận tồn tại quan hệ nhân quả một chiều từ đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế.
    • Hàm phản ứng xung (IRF): Cú sốc từ vốn đầu tư công (LNIG) tạo ra phản ứng dương đối với LNGDP, tác động tăng dần ở các quý đầu và duy trì tính ổn định dài hạn.
    • Phân rã phương sai: Đầu tư công giải thích một tỷ lệ đáng kể trong sự biến thiên của GDP thực tế bên cạnh sự đóng góp của FDI và vốn tư nhân.
  • Kết quả Mô hình 2 (Đầu tư công và Lạm phát - INF):
    • Ước lượng VAR cho thấy vốn đầu tư công (LNIG), cung tiền ($M_2$ - LNLCU), giá dầu thế giới (LNOILP) và đầu tư tư nhân (LNIP) có mối quan hệ với lạm phát.
    • Kiểm định Granger khẳng định vốn đầu tư công và cung tiền là các biến có quan hệ nhân quả Granger tới lạm phát.
    • Hàm phản ứng xung (IRF): Cú sốc gia tăng vốn đầu tư công (LNIG) làm tăng lạm phát (INF) trong ngắn hạn, đạt đỉnh sau một số quý trước khi giảm dần và ổn định trở lại. Cú sốc từ cung tiền và giá dầu thế giới cũng tạo ra phản ứng tăng mạnh tức thì đối với lạm phát.
    • Phân rã phương sai: Sự biến thiên của lạm phát chịu tác động tự thân trong quá khứ, tiếp theo là sự đóng góp của cú sốc cung tiền, vốn đầu tư công và giá dầu.

Chương 4: Giải pháp về đầu tư công để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát

Chương 4 bám sát các định hướng phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030, đưa ra 7 nhóm chính sách và giải pháp:

  1. Hoàn thiện hệ thống các văn bản hướng dẫn các chính sách, pháp luật liên quan đến đầu tư công: Rà soát, đồng bộ hóa Luật Đầu tư công, Luật Đấu thầu, Luật Xây dựng và Luật Quản lý nợ công.
  2. Nâng cao công tác xây dựng quy hoạch và quản lý dự án đầu tư công: Nâng cao chất lượng lập, thẩm định kế hoạch đầu tư công trung hạn; kiên quyết loại bỏ các dự án dàn trải, kém hiệu quả; bảo đảm tính kết nối mạng lưới hạ tầng.
  3. Tăng cường giám sát việc sử dụng vốn đầu tư công: Thiết lập cơ chế công khai, minh bạch thông tin dự án, kiểm toán độc lập và tăng cường vai trò giám sát của cộng đồng cũng như các cơ quan thanh tra.
  4. Tăng cường thu hút và quản lý các dự án đầu tư công theo hình thức PPP: Hoàn thiện khung pháp lý về đối tác công tư nhằm chia sẻ rủi ro, thu hút vốn nhàn rỗi trong xã hội tham gia xây dựng hạ tầng kỹ thuật.
  5. Tăng cường tái cơ cấu và đổi mới doanh nghiệp nhà nước: Đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn ngoài ngành, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhà nước tại các tập đoàn, tổng công ty.
  6. Tăng cường thu hút đầu tư FDI: Định hướng dòng vốn FDI vào các ngành công nghệ cao, thân thiện môi trường, có tính lan tỏa và liên kết chặt chẽ với đầu tư công trong nước.
  7. Các giải pháp hỗ trợ kiềm chế lạm phát: Phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ; điều hành cung tiền và lãi suất linh hoạt; quản lý giá các mặt hàng chiến lược đầu vào (xăng dầu, điện) nhằm hạn chế tác động lan truyền đến CPI.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học

  • Luận án kết hợp đồng thời phương pháp định tính và định lượng để kiểm định tác động của vốn đầu tư công đến cả hai biến số kinh tế vĩ mô then chốt: tăng trưởng kinh tế (GDP thực tế) và lạm phát (CPI) trong cùng một khung phân tích hoàn chỉnh.
  • Sử dụng mô hình VAR với hệ thống biến kiểm soát đa dạng (vốn tư nhân, vốn FDI, lực lượng lao động, cung tiền nội tệ, giá dầu thế giới), giúp đo lường định lượng mức độ tác động, độ trễ và tỷ lệ giải thích phương sai của các cú sốc đầu tư công tại Việt Nam.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  • Hệ thống hóa và phân tích bức tranh thực nghiệm đầu tư công của Việt Nam xuyên suốt 25 năm (1995–2019) kể từ mốc bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ năm 1995.
  • Cung cấp bằng chứng định lượng khẳng định: đầu tư công có tác động tích cực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong dài hạn; tuy nhiên, việc mở rộng đầu tư công nếu đi kèm với gia tăng cung tiền và thâm hụt ngân sách sẽ gây áp lực tăng lạm phát trong ngắn hạn.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ từ hoàn thiện thể chế pháp luật, quy hoạch, giám sát dự án, phát triển mô hình hợp tác công tư (PPP) đến phối hợp chính sách tài khóa - tiền tệ nhằm phát huy hiệu quả vốn đầu tư công đến năm 2025 và định hướng đến năm 2030.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung đánh giá tác động một chiều của vốn đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế và lạm phát, chưa đi sâu phân tích tác động phản hồi ngược chiều (feedback effect) từ tăng trưởng và lạm phát quay trở lại quy mô đầu tư công do giới hạn phạm vi nghiên cứu; mô hình định lượng sử dụng chuỗi số liệu vĩ mô tổng hợp toàn quốc, chưa phân tách theo cấp độ vùng kinh tế hoặc nhóm dự án hạ tầng đặc thù.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu tác động hai chiều giữa chính sách tài khóa và các biến số vĩ mô; áp dụng mô hình dữ liệu bảng (Panel VAR) để so sánh hiệu quả phân bổ đầu tư công giữa các địa phương hoặc các ngành kinh tế trọng điểm.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho:

  • Cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong việc lập kế hoạch đầu tư công trung hạn, đánh giá hiệu quả dự án hạ tầng và phối hợp chính sách tài khóa - tiền tệ để kiểm soát lạm phát.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng, Kinh tế phát triển, Quản lý kinh tế; đặc biệt có giá trị tham khảo về phương pháp xây dựng mô hình VAR chuỗi thời gian phân tích chính sách kinh tế vĩ mô.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án sử dụng bộ dữ liệu với quy mô và tần suất như thế nào để ước lượng định lượng?

Luận án sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian theo quý trong giai đoạn 25 năm từ năm 1995 đến năm 2019 với tổng cộng $N = 100$ quan sát, được thu thập từ Tổng cục Thống kê, World Bank và ADB.

2. Những quốc gia nào được lựa chọn để phân tích bài học kinh nghiệm quốc tế?

Luận án lựa chọn phân tích kinh nghiệm quản lý và sử dụng vốn đầu tư công từ 3 quốc gia thuộc khu vực Châu Á: Singapore, Nhật Bản và Hàn Quốc.

3. Mô hình kinh tế lượng chính được sử dụng trong luận án là gì và độ trễ tối ưu được xác định là bao nhiêu?

Luận án sử dụng Mô hình Vectơ tự hồi quy (VAR) của Sims (1980) với các công cụ: kiểm định nghiệm đơn vị, kiểm định Granger, hàm phản ứng xung (IRF) và phân rã phương sai. Độ trễ tối ưu được xác định qua các tiêu chí lựa chọn độ trễ là $p = 5$.

4. Hệ số ICOR trong giai đoạn nghiên cứu phản ánh thực trạng gì về đầu tư công tại Việt Nam?

Thực trạng cho thấy hệ số ICOR của vốn đầu tư công/GDP giai đoạn 2006–2016 cao hơn giai đoạn 1996–2005. Đồng thời, ICOR tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2007–2019 duy trì ở mức $> 6$, vượt mục tiêu tối đa là 5 theo Chiến lược Phát triển bền vững Việt Nam 2011–2020, phản ánh hiệu quả sử dụng vốn chưa cao.

5. Ngoài biến đầu tư công, những biến số nào được đưa vào mô hình VAR để kiểm soát tác động đến lạm phát?

Mô hình VAR đánh giá lạm phát (INF) bao gồm các biến kiểm soát: Vốn đầu tư ngoài quốc doanh/tư nhân (LNIP), Cung tiền mở rộng nội tệ $M_2$ (LNLCU), và Giá dầu thế giới (LNOILP).


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Kim Chung đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu phân tích tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế và lạm phát tại Việt Nam giai đoạn 1995–2019. Bằng việc kết hợp phương pháp phân tích định tính và mô hình định lượng VAR 5 bậc trễ trên chuỗi số liệu 100 quý, luận án khẳng định vai trò tích cực dài hạn của đầu tư công đối với tăng trưởng GDP thực tế, đồng thời lượng hóa áp lực ngắn hạn của việc giải ngân vốn và tăng cung tiền lên chỉ số lạm phát CPI. Các phát hiện thực nghiệm là cơ sở khoa học vững chắc để tác giả đề xuất 7 nhóm giải pháp hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng quy hoạch, tăng cường giám sát và điều hành đồng bộ chính sách kinh tế vĩ mô tại Việt Nam đến năm 2025 và định hướng đến năm 2030.