LỜI MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu Theo World Bank, “Đầu tư công là khoản chi tiêu công giúp làm tăng thêm tích lũy vốn vật chất. Tổng đầu tư công bao gồm đầu tư vào cơ sở hạ tầng vật chất do chính phủ trung ương, chính quyền địa phương và các công ty thuộc khu vực công thực hiện”. Trong khi đó, OECD cho rằng đầu tư công được định nghĩa và đo “ lường khác nhau giữa các nước, nhưng nhìn chung muốn nói đến đầu tư vào cơ sở hạ tầng vật chất (đường giao thông, tòa nhà chính phủ, v.) và cơ sở hạ tầng mềm (ví dụ như hỗ trợ cho đổi mới, nghiên cứu và phát triển, v.) với thời gian sử dụng hữu ích kéo dài trên một năm.
Đầu tư công luôn được xem là một trong những công ” cụ tài khóa của Chính phủ, để tác động đến hệ thống kinh tế nhằm tối đa hóa phúc lợi kinh tế với mục tiêu chính là kích thích tăng trưởng kinh tế dài hạn (Tanzi và Zee, 1997). Có thể nói đầu tư công là một trong những chính sách quan trọng để phát triển kinh tế xã hội của mọi quốc gia nói chung, đặc biệt rất quan trọng với những nước đang phát triển. Chi tiêu của Chính phủ sẽ bao gồm 2 bộ phận: Chi cho nhu “ cầu của chính bản thân Chính phủ (và việc thực hiện những chức năng có tính bản chất của Chính phủ), và chi cho các biện pháp mà Chính phủ thực hiện để can thiệp vào thị trường. Trong các khoản chi tiêu này, đầu tư công là những khoản chi có tác dụng kép: Một mặt, bản thân nó là những khoản tiêu dùng, trực tiếp làm tăng tổng cầu của xã hội.
Mặt khác, nó kích thích đầu tư tư nhân thông qua hiệu ứng lan tỏa do nhu cầu tăng sẽ kích thích lòng tin, tính lạc quan và tích cực đầu tư của các nhà kinh doanh. Thông qua tác động kép này, đầu tư công sẽ thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế. Đầu tư công có cả tác động trực tiếp và tác động gián tiếp tới ” tổng cung và tổng cầu trong nền kinh tế thông qua những tác động tới các yếu tố khác trong nền kinh tế. Tác động của đầu tư công tới tăng trưởng kinh tế từ phía cầu “ được xuất phát từ quan điểm của trường phái Keynes.
Theo Keynes, thị trường không bao giờ hoạt động hoàn hảo nên cần có sự can thiệp của Chính phủ để tăng cầu có hiệu quả, kích thích tiêu dùng, sản xuất, kích thích đầu tư để bảo đảm việc làm và tăng thu nhập. Đầu tư công là vấn đề kinh tế hệ trọng đối với mọi quốc gia. ” 2 Việt Nam là nước đang phát triển, đặt mục tiêu tăng trưởng cao, đồng thời luôn coi kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo, vai trò của đầu tư công lại càng có vị trí quan trọng. đầu tư công đóng góp quan trọng vào phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và nền tảng phát triển của nền kinh tế, hỗ trợ và thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhà nước nói riêng và toàn nền kinh tế nói chung.
Tuy nhiên, tỷ lệ đầu tư công lớn không tự nó đảm bảo kết quả tăng trưởng cao và vấn đề cần kiểm soát đó là xem xét tác động của đầu tư công tới tăng trưởng kinh tế. Công cuộc đổi mới nền kinh tế Việt Nam được khởi xướng từ Đại hội Đảng “ toàn quốc lần thứ VI vào năm 1986. Trải qua 35 năm đổi mới nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều bước tiến vượt bậc vươn lên trở thành một trong những nước có nền ” kinh tế phát triển nhất khu vực Châu Á. Quy mô nền kinh tế ngày càng mở rộng, “ GDP năm 2019 gấp 12,5 lần năm 2001.
Tốc độ tăng GDP tương đối cao, bình quân năm trong giai đoạn 2001-2010 tăng 7,26%, đạt xấp xỉ tốc độ tăng 7,56%/năm của Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế – xã hội 1991-2000, đây là một thành tựu phát triển kinh tế rất quan trọng của đất nước ta trong giai đoạn này. Trong giai đoạn 2011-2019, GDP tăng 6,3%/năm, trong đó năm 2018 tăng 7,08% và là mức tăng cao nhất kể từ năm 2008. Quy mô GDP tăng gấp 2,4 lần, từ 116 tỷ USD năm 2010 lên 268,4 tỷ USD vào năm 2020. GDP bình quân đầu người tăng từ 1.331 USD năm 2010 lên khoảng 2.
Những kết quả trên của Việt ” Nam có được trước hết là sự đóng góp của quá trình đầu tư công. Tuy nhiên bên cạnh thành công về phát triển kinh tế thì việc kiềm chế lạm phát ở mức an toàn luôn là vấn đề mà chính phủ Việt Nam quan tâm hàng đầu. Vào năm 1999 và 2 năm đầu “ thế kỷ 21, tỷ lệ lạm phát của nước ta rất thấp. Thực tế, năm 1999, 2000, 2001, tốc độ tăng CPI chỉ ở mức rất thấp chỉ dừng lại ở mức 1 con số.
Thậm chí năm 2000 còn giảm phát khi tỷ lệ lạm phát -0,6%. Hai năm 2002 và 2003, lạm phát tăng trở lại nhưng không quá cao. Năm 2002, với tỷ lệ lạm phát là 4%, năm 2003 là 3%. Tuy nhiên trong giai đoạn 2004 – 2009 thì lạm phát ở Việt Nam luôn duy trì ở mức cao, duy trì ở mức 10%.
Trong 3 năm đầu thời kỳ này, lạm phát tăng mạnh hơn hẳn so với thời kỳ trước dù vẫn chỉ dừng lại ở 1 con số, cụ thể là: năm 2004 tỷ lệ lạm phát 3 là 9,5% (tăng 216,7% so với 2003), năm 2005 là 8,4% và năm 2006 là 6,6%. Tuy vậy, trước tình hình đó, nước ta đã không có những giải pháp thỏa đáng. Vì lẽ đó, năm 2007 và 2008, lạm phát của nước ta đã tăng cao và rơi vào tình trạng khó kiểm soát, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng vọt lên mức 2 con số. Cụ thể là lạm phát đã đạt ngưỡng 2 con số lần lượt là 12,36% và 24,4% vào các năm 2007 và 2008.
Nguyên nhân là do cùng với đà suy thoái kinh tế thế giới, đồng USD mất giá, giá dầu thô tăng cao, giá cả lương thực và nguyên nhiên vật liệu tăng đột biến cộng với tác động của thiên tai, dịch bệnh đã làm cho nền kinh tế Việt Nam bộc lộ những nhược điểm cố hữu của một nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi. Sau đó, nhờ ” những nổ lực kịp thời trong các chính sách kinh tế trong đó có chính sách về đầu tư công mà Chính phủ đã bình ổn được lạm phát, đưa nó về một con số 7% vào năm 2009. Thời kỳ 2010-2019, nhờ áp dụng đồng bộ các chính sách tiền tệ trong đó có “ việc kiểm soát chặt chẽ chính sách đầu tư công và tài khóa, cùng với việc đẩy mạnh phát triển sản xuất, gia tăng hàng xuất khẩu, lạm phát được duy trì ổn định ở mức một con số và có xu hướng giảm. Tác động của đầu tư công đến lạm phát hoặc tăng trưởng chưa rõ ràng trong 1 số giai đoạn như giai đoạn 1995-2019, tỷ lệ lạm phát của Việt Nam có nhiều biến động.
Trong đó, những năm có tỷ lệ lạm phát ở mức hai con số rơi vào giai đoạn năm 1995, giai đoạn 2007-2008. Trong quá trình thực hiện các hoạt động đầu tư, công tác quy hoạch chưa thật sự hiệu quả sự phối hợp giữa các cơ quan trong việc xây dựng quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội, quy hoạch ngành, lĩnh vực vẫn còn lỏng lẻo. Các căn cứ xây dựng kế hoạch đầu tư công trung hạn, kế hoạch đầu tư công hàng năm chưa được xây dựng phù hợp với thực tế phát triển kinh tế của Việt Nam việc kêu gọi và thu hút đầu tư từ các tổ chức kinh tế và người dân còn chưa được triên khai đồng bộ. Theo kết quả phân tích thực trạng đầu tư công và tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 1995-2019 cho thấy, tốc độ tăng trưởng của đầu tư công của một số năm vẫn còn cao hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng kinh tế, nhất là ở những giai đoạn năm 1996, 1998-2000, năm 2017.
Hệ số ICOR của vốn đầu tư công/GDP của giai đoạn 2006 – 2016 vẫn còn cao hơn so với giai đoạn 1996 – 2005. Mặc dù hệ số 4 ICOR của đầu tư công nằm ở mức < 3, tuy nhiên ICOR của tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2007 – 2019 lại > 6, trong khi chỉ tiêu ICOR được đề ra cho giai đoạn 2015-2020 tối đa là 5 (Theo Chiến lược Phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020). Và vốn đầu tư công lại chiếm tỷ lệ chủ đạo trong cấu thành tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Như vậy, có thể thấy rằng, hiệu quả của đầu tư công trong giai đoạn này vẫn chưa đem lại hiệu quả cao cho tăng trưởng kinh tế của Việt Nam.
Đầu tư công của Việt Nam vừa có tác dụng định hướng, vừa có tác dụng thu hút các nguồn vốn khác cùng góp phần đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của các ngành sản xuất kinh doanh, phát triển các lĩnh vực hoạt động xã hội và nâng cao tiềm lực của các vùng kinh tế trong cả nước cùng phát triển vì những mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Chương trình đầu tư công thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, và là đối tượng quan trọng của công tác kế hoạch hoá nền kinh tế quốc dân kìm chế lạm phát. Tuy nhiên tính đến thời điểm hiện tại thì chưa có nhiều công trình nghiên cứu sâu về tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế và lạm phát của việt nam trong giai đoạn 5 năm trở lại đây. Đầu tư công có ” vai trò đặc biệt quan trọng, nếu không kiểm soát tốt đầu tư công thì sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho sự phát triển kinh tế và đẩy lạm phát tăng cao.
Xuất phát từ vai trò và ý nghĩa đó tác giả đã chọn đề tài “Tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế và lạm phát ở Việt Nam” làm luận án. Với mục đích nghiên cứu, đồng thời tìm hiểu một cách sâu sắc về thực trạng đầu tư công của Việt Nam trong 25 năm qua, từ năm 1995-2019 và tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế và cả tác động của đầu tư công đến lạm phát trong nước. Chưa có nghiên cứu trong nước thực hiện đồng thời cả hai khía cạnh này. Ngoài ra, nghiên cứu thêm về các bài học kinh nghiệm trong sử dụng, quản lý vốn đầu tư công của một số quốc gia trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương.