Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHAM TOI CÓ TỔ CHỨC THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. PHAM TOI CÓ TỔ CHỨC - MỘT HÌNH THUC DONG PHAM ĐẶC BIỆT. Đồng phạm và các hình thức đồng phạm theo luật hình sự Việt Nam. Khái niệm đồng phạm.
Đồng phạm nói chung, phạm tội có tổ chức nói riêng là những vấn đề phức tạp của luật hình sự Việt Nam. Trước khi ban hành BLHS năm 1985 chưa có một văn bản pháp luật nào quy định khái niệm chung về đồng phạm, về phạm tội có tổ chức với tính cách là một hình thức đồng phạm. Tuy nhiên, vấn dé đồng phạm, phạm tội có tổ chức đã được ghi nhận trong các văn bản pháp luật hình sự của các triều đại phong kiến Việt Nam. Chẳng hạn, Quốc triều Hình luật (Luật hình triều Lê 1428 — 1788) đã dé cập đến vấn dé đồng phạm ở các Điều 35, 36, 116, 411, 412, 454, 469 và 539.
Tuy nhiên, Bộ luật này chưa có quy phạm định nghĩa về đồng phạm. Ở đây tính đồng phạm mới chỉ được thể hiện ở nguyên tắc trừng trị tội phạm “Nhiều người cùng phạm một tội thì lấy người khởi xướng làm đầu, người a tòng được giảm một bậc” (Điều 35) [89, tr 46]. Hoàng Việt Luật lệ (Luật Gia Long) được khắc in lần đầu năm 1812, mặc dù chịu ảnh hưởng Luật Thanh triều khá sâu sắc, nhưng nhiều điều luật, trong đó có các điều luật qui định về đồng phạm vẫn tiếp thu qui định của Luật Hồng Đức mà không có những cải biến đáng kể nào về kỹ thuật lập pháp. Chẳng hạn, Điều 29 của Luật này qui định : “Phàm cùng phạm tội thì lấy người tạo ý đầu tiên làm i, những người tuỳ tùng giảm một bậc.
Nếu mọi người trong cùng một nhà -¡ng phạm lội thì buộc tội một minh tôn trưởng ”[49, tr 181]. Từ năm 1858 đến trước Cách mạng tháng Tám, thực dân Pháp xâm lược nước ta, cho nên hệ thống pháp luật nói chung, pháp luật hình sự của nước ta nói riêng thời đó chịu ảnh hưởng tư duy pháp lý của hệ thống pháp luật châu Âu lục địa. Hoàng Việt Hình luật được ban hành ngày 3/ 7/ 1933 (có hiệu lực ở miền Trung nước ta) đã có hẳn Chương IX qui định về chế định đồng phạm. Tuy nhiên, Bộ luật này vẫn chưa có quy phạm định nghĩa về đồng phạm và tính đồng phạm cũng chỉ dừng lại ở nguyên tắc trừng trị tội phạm : “Khi nào nhiều người đông can một tội đại hình hoặc trừng trị mà xét rõ là đáng tội, quan toà phải xét trong những người ấy hoặc một người hoặc nhiều người là chính yếu phạm, còn những người khác thời cho là tòng phạm và chỉ xử tội bằng phân nửa tội người chính yếu phạm" [34, tr 273).
Sau Cách mạng tháng Tám, vấn đề đồng phạm tiếp tục được ghi nhận ở nhiều văn bản pháp luật hình sự. Nhưng các văn bản pháp luật được ban hành trong thời kỳ đầu, khi nhân dân lao động mới dành được chính quyền mới chỉ dừng lai 6 việc quy định trách nhiệm hình sự đối với những trường hợp đồng phạm cụ thể. Ví dụ : Sắc lệnh số 223/SL ngày 17/ 11/ 1946 qui định : "Người phạm tội đưa hối lộ cũng như nhận hối lộ. còn có thể bị xử tịch thu nhiều nhất là đến 3/4 gia sản.
Các đồng phạm và tong phạm cũng bị xứ phạt như trên" [5,104]. Đến những năm 1950-1960, trong một số văn bản pháp luật được ban hành, chẳng hạn, Sắc lệnh số 267/SL ngày 15 /6/ 1956 trừng trị những âm mưu và hành động phá hoại tài sản của Nhà nước, tính đồng phạm đã được thể hiện ở nguyên tắc trừng trị tội phạm : "Nehié~ „ trị bọn chủ mitu, cam đầu, bọn ngoan cố, bọn hoạt. động đắc lực.; khoan hồng đối với những người bị lừa phỉnh, bị ép buộc, lầm đường. Những qui định trên về đồng phạm, tuy chưa đầy đủ và hoàn chỉnh, nhưng cũng đã phát huy được tác dụng tích cực trong đấu tranh phòng và chống tỏi phạm (nhất là các tội phạm có tính phá hoại), góp phần tích cực bảo vệ chính quyền cách mạng còn non trẻ.
Vào những năm đầu thập ky 60 (cho đến trước năm 1985), cùng với sự phát triển của khoa học luật hình sự, khái niệm đồng phạm đã bắt đầu được đề cập trong các sách báo pháp lý hoặc trong các báo cáo tổng kết của ngành Toà án. Chẳng hạn, tại Hội nghị tổng kết công tác xét xử năm 1963, Toà án nhân dân tối cao có đưa ra kết luận về đồng phạm (mà thời kỳ trước đây gọi là cộng phạm) như sau: "Coi là cộng phạm nếu hai hoặc nhiều người cùng chung ý chi, cùng chung hành động, nghĩa là hoặc tổ chức hoặc xúi giục, hoặc giúp sức hoặc trực tiếp cùng tham gia thực hành tội phạm để cùng đạt tới kết quả phạm tdi" [71, tr 30]. Kết luận trên đây đã xác lập một khái niệm về đồng phạm (cộng phạm), trong đó đã nêu nên được các dấu hiệu điển hình của đồng phạm - cơ sở pháp lý cho việc xác định vụ án đồng phạm. Tuy nhiên, khái niệm này chưa mang tính khái quát, chưa phản ánh day đủ những dấu hiệu pháp lý đặc trưng chung cho moi hình thức đồng phạm.
Đến năm 1985 khi BLHS đầu tiên được Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam khoá VII, kỳ họp thứ 9 thông qua và có hiệu lực thì đồng phạm chính thức trở thành chế định riêng và được qui định tại điều 17 BLHS với nội dung là : "Hai hoặc nhiều người cố ý thực hiện một tội phạm là đồng phạm”. Việc BLHS lần đầu tiên ghi nhận chế định đồng phạm trong đó qui định khái niệm đồng phạm đánh dấu một bước phát triển về chất trong hoạt động lập pháp hình sự ở nước ta. Mặc dù vậy, định nghĩa pháp lý về đồng phạm được ghi nhận trong Điều 17 BLHS 1985 vẫn chưa hoàn toàn chính xác về mặt khoa học, chưa thể hiện đúng và toàn diện bản chất -nháp lý chung của khái niệm đồng phạm [16, tr 157-158]. Trong khái niệm này, nhà làm luật có sử dụng cụm từ “hai hoặc nhiều người” như vậy là có sự lặp lại, bởi vì nhiều người đã bao hàm cả trường hợp hai người.
Để khắc phục nhược điểm này, trong BLHS (sửa đổi) được Quốc hội thông qua ngày 21/ 12/ 1999 (sau đây gọi tắt là BLHS 1999) các nhà lập 10 cháp đã sửa đối khái niệm đỏng phạm và qui định tại Điều 20 với nội dung như Sỹ : “Đồng phạm là trường hop có tit hai người trở lén cố ý cùng thực hiện một tôi phạm ' Phân tích khái niệm này về đồng phạm chúng tôi thấy rằng, mặc dù các nhà lập pháp nước ta đã sửa đổi nội dung của khái niệm đồng phạm, khắc phục được những điểm bất hợp lý trong việc quy định khái niệm đồng phạm tại Điều 17 BLHS 1985, nhưng khái niệm đồng phạm trong BLHS năm 1999 vẫn còn những điểm cần phải bàn thêm. Đó là trong khái niệm này vẫn tiếp tục sử dụng cụm từ “cùng thực hiện một tội phạm” như trong khái niệm đồng phạm được quy định tại Điều 17 BLHS năm 1985. Theo chúng tôi cụm từ “cùng thực hiện tội phạm” mới chỉ dé cập đến hành vi của một loại người đồng phạm là người thực hành, bởi vì theo quy định tại khoản 2 Điều 20 BLHS năm 1999 trong số những người đồng phạm chỉ có người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm, còn những người đồng phạm khác như : người tổ chức, người gitip sức, người xúi giục chỉ tham gia vào việc thực hiện tội phạm bằng cách tổ chức, xúi giục hoặc giúp sức người thực hành thực hiện tội phạm. Do vậy khái niệm về đồng phạm quy định tại Điều 20 BLHS năm 1999 chưa bao quát hết các loại hành vi của tất cả những người đồng phạm.
Theo chúng tôi để đảm bảo chính xác về mặt khoa học khái niệm đồng phạm cần được sửa lại như sau : “Đồng phạm là hình thức phạm tội do hai người trở lên cố ý cùng tham gia thực hiện mội tội phạm” Với nội dung trên, đồng phạm đòi hỏi phải ¢6 các dấu hiệu phan ánh mối liên hệ về mặt khách quan và chủ quan của những người cùng tham gia thực hiện tội phạm : a) Về mặt khách quan, đồng phạm đòi hỏi có từ hai người trở lên đủ điều kiện về chủ thể của tội phạm cùng tham gia vào việc thực hiện một tội phạm cụ thể. Như vậy, để thừa nhận một trường hợp phạm tội cụ thé là đồng phạm đòi hỏi phải thoả mãn cả dấu hiệu định lượng và cả dấu hiệu định tính : Về mặt định lượng, đồng phạm doi hỏi phải có từ hai người trở lên đủ điều kiện chủ thể của tội phạm tham gia vào thực hiện một tội phạm cụ thể. Dấu hiệu pháp lý này là dấu hiệu định lượng xác định rõ số lượng người và số lượng tội phạm được thực hiện bằng đồng phạm. Nội dung của dấu hiệu này thể hiện ở những điểm sau đây : Thứ nhất, về số lượng người thực hiện tội phạm trong đồng phạm, phải có từ hai người trở lên và những người này phải có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt đến độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự mà luật định.
Mặc dù BLHS không qui định số người tối đa tham gia thực hiện tội phạm dưới hình thức đồng phạm là bao nhiêu, nhưng tối thiểu cũng phải từ hai người trở lên. Việc qui định số lượng người trong đồng phạm là bat buộc để phân biệt với trường hợp thực hiện tội phạm riêng lẻ (bởi một người). Thứ hai, tội phạm được thực hiện bằng hình thức đồng phạm phải là một tội phạm cố ý cụ thể, độc lập với các tội phạm khác, chứ không phải là tội phạm nói chung. Như vậy, xác định đồng phạm là xác định mối quan hệ giữa những người cùng tham gia thực hiện một tội phạm cụ thể nhất định.
Qua nghiên cứu dấu hiệu khách quan này của đồng phạm cho thấy rằng, nếu có nhiều người tham gia thực hiện một tội phạm mà chỉ có một người thoả mãn các điều kiện về chủ thể của tội phạm, còn những người khác không có đủ các, điều kiện đó thì đây là trường hợp phạm tội độc lập, riêng lẻ, chứ không phải là trường hợp đồng phạm. Bởi lẽ, chỉ những người có đủ điều.kiện về chủ thể của tội phạm cùng tham gia thực hiện một tội phạm mới có thể là người đồng phạm.