CHƯƠNG 1 NHẬN THỨC LÝ LUẬN PHÒNG NGỪA CÁC TỘI PHẠM VỀ GIAO THÔNG ĐƯỜNG THỦY 1. Khái niệm và đặc điểm pháp lý của các tội về giao thông đường thủy 1. Khái niệm các tội phạm về giao thông đường thủy Các tội phạm về giao thông đường thủy thuộc nhóm tội xâm phạm an toàn công cộng, không những vi phạm các quy tắc xử sự về mặt an toàn xã hội mà còn gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại về người và tài sản trong lĩnh vực giao thông vận tải đường thủy. BLHS năm 1999 đã cụ thể hóa hành vi vi phạm an toàn giao thông thành bốn nhóm: đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường hàng không.
Trong đó, nhóm tội phạm về giao thông đường thủy bao gồm các tội: “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường thủy”(Điều 212); “Cản trở giao thông đường thủy” (Điều 213); “Đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông đường thủy không đảm bảo an toàn” (Điều 214); “Điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông đường thủy” (Điều 215). Trên cơ sở khái niệm tội phạm nói chung, những dấu hiệu pháp lý đặc trưng của nhóm tội xâm phạm an toàn công cộng và trong lĩnh vực giao thông đường thủy nói riêng, có thể rút ra được khái niệm tội phạm về giao thông đường thủy như sau: Tội phạm về giao thông đường thủy là những hành vi gây nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách vô ý, vi phạm các quy tắc xử sự trong lĩnh vực giao thông đường thủy, xâm phạm an toàn giao thông đường thủy, gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại về người và tài sản do BLHS bảo vệ. Để làm rõ dấu hiệu pháp lý của nhóm tội này, chúng ta chú ý đến một số khái niệm đặc thù chỉ có trong loại hình giao thông đường thủy nội địa như sau: 8 ‐ Đường thủy nội địa là luồng, âu tàu, các công trình đưa phương tiện qua đập, thác trên sông, kênh, rạch hoặc luồng trên hồ, đầm, phá, vụng, vịnh, ven bờ biển, ra đảo, nối các đảo thuộc nội thuỷ của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tổ chức quản lý, khai thác giao thông vận tải. ‐ Phương tiện thuỷ nội địa (sau đây gọi là phương tiện) là tàu, thuyền và các cấu trúc nổi khác, có động cơ hoặc không có động cơ, chuyên hoạt động trên đường thuỷ nội địa.
‐ Hoạt động giao thông đường thuỷ nội địa là hoạt động của người, phương tiện tham gia giao thông, vận tải đường thuỷ nội địa; quy hoạch phát triển, xây dựng, khai thác, bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường thuỷ nội địa và quản lý Nhà nước về giao thông đường thuỷ nội địa. - Luồng chạy tàu thuyền (sau đây gọi là luồng) là vùng nước được giới hạn bằng hệ thống báo hiệu đường thuỷ nội địa để phương tiện đi lại thông suốt, an toàn3. So với luật hình sự của một số nước trên thế giới như: BLHS Nhật Bản, Thụy Điển, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa; BLHS của nước ta đã cụ thể hóa tội danh và hình phạt của nhóm tội xâm phạm an toàn giao thông đường thủy hơn so với luật của các nước. Ví dụ: - Theo BLHS Nhật Bản, các tội cản trở giao thông được quy định tại Chương XI từ Điều 124 đến 129.
Trong trường hợp gây thương tích, hoặc gây chết người do vi phạm an toàn giao thông đường thủy thì bị xử lý theo tội tương ứng do vô ý4. - BLHS Thụy Điển cũng không quy định tội xâm phạm an toàn giao thông đường thủy thành nhóm tội độc lập mà quy định chung trong nhóm tội phạm do khinh suất từ Điều 7 đến Điều 9 Chương 3 và nhóm tội xâm phạm an toàn công cộng theo Chương 13, Điều 45. - BLHS của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa chỉ quy định chung trong một điều luật là Điều 133 “Người nào vi phạm luật lệ giao thông vận tải gây sự cố lớn dẫn đến làm trọng thương, gây chết người hoặc gây tổn thất lớn về 3 Điều 3 Luật giao thông đường thủy nội địa ngày 15/6/2004. 4 Ban dự thảo BLHS sửa đổi - Bộ Tư pháp (1994), Bộ luật hình sự Nhật Bản, Hà Nội, tr.
5 Bộ Tư pháp - Hội đồng Nhà nước về phòng ngừa tội phạm Thụy Điển, Bộ luật hình sự Thụy Điển, tr. 9 tài sản của cá nhân, tập thể thì phạt tù đến 3 năm, hoặc cải tạo lao động, nếu sau khi xảy ra sự cố mà chạy trốn hoặc có tình tiết đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ 3 năm đến 7 năm; nếu vì chạy trốn gây chết người thì bị phạt tù có thời hạn từ 7 năm trở lên”6. Trong phạm vi đề tài nghiên cứu, tác giảtập trung trình bày đặc điểm pháp lý của hai tội, đó là những tội trên thực tế xảy ra khá phổ biến trên tuyến đường thủy nội địa tỉnh Vĩnh Long. Việc tập trung nghiên cứu ở hai tội được quy định ở Điều 212 - Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường thủy và Điều 213 - Tội cản trở giao thông đường thủy, là nhằm làm sáng tỏ tình hình loại tội phạm này, từ đó đề xuất giải pháp góp phần bảo đảm an toàn, trật tự trên tuyến thủy nội địa tại tỉnh Vĩnh Long.
Đặc điểm pháp lý của các tội phạm về giao thông đường thủy - Về khách thể Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị hành vi phạm tội gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại. Theo luật hình sự Việt Nam, những quan hệ xã hội được coi là khách thể bảo vệ của luật hình sự là những quan hệ xã hội đã được xác định tại Điều 8 của BLHS. Trên cơ sở lý luận về khách thể của tội phạm nói chung, khách thể của các tội phạm về giao thông đường thủy là các quan hệ xã hội được BLHS bảo vệ, đó là trật tự an toàn giao thông vận tải đường thủy nội địa cũng như sự an toàn về tính mạng, sức khỏe và tài sản của người khác khi tham gia giao thông đường thủy. Sự gây thiệt hại cho khách thể của các tội về giao thông đường thủy, dù ở hình thức cụ thể nào, cũng luôn diễn ra trên cơ sở hành vi phạm tội tác động vào đối tượng cụ thể làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn giao thông đường thủy.
Chẳng hạn, hành vi phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường thủy hay tội cản trở giao thông đường thủy đã gây thiệt hại hoặc có khả năng thực tế gây thiệt hại nghiêm trọng cho tính mạng, sức khỏe con người hoặc tài sản thì đối tượng của khách 6 Đinh Bích Hà (2007), Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, NXB Tư Pháp, HN, tr. 10 thể được đề cập ở đây là con người cụ thể (là tính mạng, sức khỏe) hoặc các đối tượng vật chất (là tài sản của người khác). Ngoài ra, đối tượng bị tác động trong quan hệ xã hội là khách thể của tội phạm còn là sự an toàn giao thông đường thủy. Như vậy, khách thể của các tội về giao thông đường thủy là nhiều quan hệ xã hội khác nhau được luật hình sự bảo vệ.
Bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội về giao thông đường thủy chỉ được thể hiện đầy đủ trong tổng hợp các thiệt hại đã gây ra hoặc đe dọa gây ra cho xã hội của hành vi vi phạm. Ví dụ: hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường thủy vừa tác động đến con người hoặc tài sản vừa tác động đến sự an toàn giao thông đường thủy. Việc tìm hiểu về khách thể của các tội về giao thông đường thủy có ý nghĩa nhận thức lý luận giúp cho hoạt động phòng ngừa tội phạm được đi vào trọng tâm, có định hướng. - Về mặt khách quan Trong yếu tố mặt khách quan của tội phạm, hành vi nguy hiểm cho xã hội là biểu hiện cơ bản nhất.
Những biểu hiện khác của mặt khách quan chỉ có ý nghĩa khi có hành vi nguy hiểm cho xã hội. Trong luật hình sự, hành vi được hiểu là biểu hiện của con người ra thế giới khách quan mà mặt thực tế của nó được ý thức kiểm soát và ý chí điều khiển. Trong khuôn khổ của đề tài, chỉ xin được đề cập đến mặt khách quan của tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường thủy và tội cản trở giao thông đường thủy ở biểu hiện hành vi khách quan, hậu quả của tội phạm và quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả. Cụ thể là: Hành vi khách quan của tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường thủy” là hành vi vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện bằng việc không chấp hành hoặc chấp hành không đầy đủ các quy định về an toàn giao thông đường thủy đã được các văn bản pháp luật như Luật giao thông đường thủy nội địa quy định.
Hành vi khách quan của tội “Cản trở giao thông đường thủy” là những hành vi như: khoan, đào trái phép làm hư hại kết cấu của công trình; tạo ra chướng ngại vật gây cản trở giao thông đường thủy mà không đặt và 11 duy trì báo hiệu; di chuyển làm giảm hiệu lực, tác dụng của báo hiệu; tháo dỡ báo hiệu hoặc phá hoại công trình giao thông đường thủy; lấn chiếm luồng hoặc hành lang bảo vệ luồng giao thông; hành vi khác cản trở giao thông đường thủy. Hậu quả của các tội nêu trên là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm, đó là làm thiệt hại đến tính mạng hoặc thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác. Trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời thì cũng sẽ bị xử lý nếu thuộc trường hợp vi phạm quy định về điều khiển hoặc cản trở phương tiện giao thông đường thủy theo quy định tại Điều 212 và 213 của BLHS. Quan hệ nhân quả giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội về giao thông đường thủy là biểu hiện thứ ba của yếu tố thuộc mặt khách quan của tội phạm.
Trong việc áp dụng pháp luật hình sự, để buộc chủ thể phải chịu trách nhiệm hình sự về hậu quả nguy hiểm cho xã hội, cơ quan áp dụng phải chứng minh hậu quả cho xã hội đó là do hành vi nguy hiểm cho xã hội mà hành vi đó gây ra7.