Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG ĐIỀU TRA VỤ ÁN VỀ ĐỘNG VẬT HOANG DÃ 1. Khái niệm thực hành quyền công tố trong điều tra vụ án về động vật hoang dã 1.1 Khái niệm quyền công tố và thực hành quyền công tố Để hiểu rõ được nội dung, ý nghĩa của thực hành quyền công tố trong điều tra vụ án về động vật hoang dã, chúng ta cần nghiên cứu một số khái niệm cơ bản sau: Thứ nhất, khái niệm về quyền công tố và thực hành quyền công tố: Hiện có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm quyền công tố và THQCT như là: “Quyền công tố là quyền buộc tội nhân danh nhà nước đối với người phạm tội” [51, tr.188]; là quyền nhà nước đưa các việc làm phạm pháp liên quan đến lợi ích chung ra Tòa án để xét xử, vì nhà nước nhân danh xã hội duy trì mọi xung đột xã hội gắn với trật tự công cộng mà trách nhiệm của nhà nước phải đứng ra điều hòa - đó là bản chất của quyền lực [41]; là sự cáo buộc của Nhà nước đối với các cá nhân, tổ chức đã vi phạm pháp luật, bao gồm vi phạm hành chính, vi phạm luật dân sự, luật kinh tế và luật hình sự. Và quyền công tố là quyền của nhà nước thực hiện sự cáo buộc đó [19]; là việc truy tố kẻ phạm tội ra trước Tòa án, thực hiện sự buộc tội tại phiên tòa [41]. Tuy nhiên, dù có theo quan điểm nào thì các tác giả đều khẳng định: Quyền công tố là quyền lực công, quyền lực của nhà nước, xuất hiện từ khi có tội phạm xảy ra, các cơ quan nhà nước thực hiện các hoạt động tố tụng nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự, chứng minh hành vi phạm tội và tiến hành buộc tội trước tòa.
Như vậy có thể hiểu Quyền công tố là quyền nhân danh lợi ích công để phát giác, tố cáo những hành vi vi phạm pháp luật ra trước Tòa án để xét xử, truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. 7 Luan van Ở nước ta, nhà nước giao cho Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan THQCT. Nội dung này thể hiện rõ trong quy định của Hiến pháp, Luật và các Nghị quyết của Đảng ta từ năm 1960 tới nay. Khoản 1 Điều 107 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp” [29].
Theo quy định tại Điều 20 BLTTHS năm 2015 thì: Trách nhiệm THQCT và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự thuộc về Viện kiểm sát. Điều 2 Luật tổ chức VKSND quy định: “Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [30]. Như vậy, quyền công tố là quyền năng pháp lý của nhà nước được pháp luật giao cho một chủ thể duy nhất thực hiện, đó là VKSND. Do vậy, nếu quyền công tố là một quyền năng pháp lý mang tính Hiến định của Viện kiểm sát, là quyền năng pháp lý trao cho Viện kiểm sát đại diện quyền lực công để nhằm buộc tội, để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm, thì thực hành quyền công tố chính là những hoạt động của Viện kiểm sát nhằm thực hiện các quyền buộc tội này trong tố tụng hình sự.
Theo từ điển Tiếng Việt thì thuật ngữ “thực hành” được hiểu là “làm để áp dụng lý thuyết vào thực tế”. Như vậy, nếu xét về nghĩa thì thuật ngữ “thực hành” thường được áp dụng trong trường hợp vận dụng một vấn đề nào đó từ lý thuyết vào thực tế, là quá trình chuyển biến tri thức thành hiện thực. Theo quan điểm của tác giả Nguyễn Minh Đức được nêu trong bài viết “Quyền công tố và tổ chức thực hiện quyền công tố trong Nhà nước pháp quyền” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp 1, 2 năm 2012 thì “Thực hành quyền công tố chính là thực hiện các hành vi tố tụng cần thiết theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự để truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội, đưa người phạm tội ra trước Toà án và bảo vệ sự buộc tội đó”. Tuy nhiên, có thể thấy quan điểm này chưa phản ánh thật sự chính xác nội hàm của THQCT cũng 8 Luan van như chưa thể hiện đúng vai trò, nhiệm vụ của Viện kiểm sát trong việc chứng minh tội phạm vì quá chú trọng đến nhiệm vụ buộc tội, bảo vệ sự buộc tội.
Theo quan điểm trình bày trong cuốn “Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra” của các tác giả Lê Hữu Thể (Chủ biên), Đỗ Văn Đương, Nông Xuân Trường do Nhà xuất bản Tư pháp phát hành năm 2005 thì cho rằng: “Thực hành quyền công tố là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử”. Quan điểm này đã chỉ rõ hơn nghĩa của thuật ngữ “thực hành” nhưng chưa xác định chủ thể THQCT, và giới hạn phạm vi của THQCT chỉ thực hiện trong ba giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử. Quan điểm này đã thu hẹp phạm vi THQCT bởi lẽ nếu THQCT chỉ tồn tại trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử thì cũng sẽ không giải thích được các hoạt động khác trước, trong giai đoạn khởi tố như hoạt động bắt, giữ… Một điểm chung giữa hai quan điểm nêu trên đó là đều thống nhất THQCT có các đặc điểm gồm: + THQCT do một chủ thể là cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện. + THQCT là hoạt động áp dụng pháp luật và đối tượng bị buộc tội là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội theo quy định của Bộ luật hình sự.
+ THQCT bắt đầu khi phát hiện được nguồn tin về sự việc có dấu hiệu tội phạm và kết thúc khi có bản án có hiệu lực pháp luật. + THQCT là việc áp dụng các biện pháp do pháp luật quy định để bảo đảm phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội. Từ những phân tích trên tác giả cho rằng khái niệm THQCT có thể hiểu đó là: "hoạt động thực hiện chức năng Hiến định của Viện kiểm sát để buộc tội mang tính Nhà nước đối với người có hành vi phạm tội, được bắt đầu từ khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố cho đến khi bản 9 Luan van án, quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật, nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức”. Như vậy, ngoài chủ thể Viện kiểm sát thì các cơ quan có thẩm quyền điều tra cũng có quyền buộc tội mang tính nhà nước nhưng không hề có quyền công tố và thực hành quyền công tố.
Khái niệm vụ án hình sự, điều tra vụ án hình sự, giai đoạn điều tra vụ án hình sự Vụ án hình sự có thể được hiểu là một vụ việc có dấu hiệu trái pháp luật mang tính chất hình sự được cơ quan tiến hành tố tụng thụ lý và giải quyết theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Theo “Giáo trình Đào tạo nghiệp vụ kiểm sát” của trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, năm 2017: “Điều tra vụ án hình sự là quá trình cơ quan có thẩm quyền áp dụng tổng hợp các biện pháp theo quy định của pháp luật để phát hiện, thu thập tài liệu, chứng cứ nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án, chứng minh tội phạm trước pháp luật, phục vụ công tác xử lý và góp phần phòng ngừa tội phạm”. Trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự CQĐT căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng hình sự và dưới sự kiểm sát của VKSND tiến hành các biện pháp cần thiết nhằm thu thập và củng cố các chứng cứ, nghiên cứu các tình tiết của vụ án hình sự, phát hiện nhanh chóng và đầy đủ tội phạm, cũng như người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự, đồng thời bảo đảm cho việc bồi thường thiệt hại về vật chất do tội phạm gây nên và trên cơ sở đó quyết định: Đình chỉ điều tra vụ án hình sự hoặc là chuyển toàn bộ các tài liệu của vụ án đó cho Viện kiểm sát kèm theo kết luận điều tra và đề nghị truy tố bị can. Quá trình giải quyết vụ án hình sự chính là quá trình thực hiện các thủ tục tố tụng hình sự qua các giai đoạn tố tụng hình sự khác nhau.
Trong đó, thủ 10 Luan van tục tố tụng hình sự được hiểu là trình tự, điều kiện, các bảo đảm chung, thống nhất và có tính bắt buộc phải tuân thủ theo luật định đối với toàn bộ hoạt động tố tụng hình sự cũng như đối với từng giai đoạn tố tụng, từng hành vi tố tụng cụ thể, đối với các quyết định tố tụng và đối với việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của các chủ thể tố tụng, nhằm phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh và kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Giai đoạn là phần thời gian trong quá trình phát triển dài mang những đặc điểm riêng biệt nhằm phân biệt giữa các giai đoạn khác nhau. Theo đó, dựa vào những đặc điểm riêng biệt để phân ra các giai đoạn trong tố tụng hình sự. Nói cách khác giai đoạn tố tụng là các khâu, các phần việc khác nhau của quá trình tố tụng nhằm giải quyết một vụ án hoặc một vụ việc.
Tùy vào tính chất, nhiệm vụ của mỗi hoạt động tố tụng, quá trình tố tụng có thể được chia thành các giai đoạn khác nhau. Các giai đoạn tố tụng có mối quan hệ mật thiết với nhau. Ở mỗi giai đoạn tố tụng, các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng có những nhiệm vụ, quyền hạn hoặc nghĩa vụ nhất định. Việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn hay nghĩa vụ của các chủ thể này trong mỗi giai đoạn tố tụng đều có ảnh hướng đến việc thực hiện nhiệm vụ chung của tố tụng.