CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Linh trưởng (Primates) là một trong những nhóm thú phân bố rộng nhất trên thế giới, chúng sử dụng nhiều dạng sinh cảnh sống khác nhau, trong đó chúng phân bố tập trung chủ yếu ở các vùng rừng nhiệt đới và cận nhiệt đới của cả hai bán cầu. Ngày nay nghiên cứu các loài Linh trưởng được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm, cùng với sự tiến bộ về khoa học kỹ thuật đã giúp các nhà khoa học nghiên cứu và tìm ra nhiều vấn đề hơn ở các loài Linh trưởng, từ nguồn gốc tiến hóa cho đến mối quan hệ xã hội bầy đàn của chúng. Cơ sở lý luận Việt Nam được coi là nước có khu hệ thú Linh trưởng đa dạng và phong phú về loài và thành phần loài đứng thứ hai trong khu vực Đông Nam Á.
70% các loài Linh trưởng ở Việt Nam là những loài bị đe dọa toàn cầu, số còn lại đang trong tình trạng thiếu thông tin hoặc có thể cũng nằm trong tình trạng đó. Hiện đã ghi nhận được 25 loài và phân loài, trong đó có 6 loài và phân loài đặc hữu của Việt Nam (Vọoc mũi hếch, Chà vá chân xám, Vọoc gáy trắng, Vọoc đầu trắng, Vọoc mông trắng, Khỉ đuôi dài) và 5 loài và phân loài là đặc hữu của Đông Dương (Chà vá chân xám, Chà vá chân đen, Vọoc đen tuyền, Vượn Siki và Vượn đen má hung). Không những vậy, có 5 loài trong số 25 loài Linh trưởng đang bị đe dọa trên toàn thế giới có mặt trên lãnh thổ Việt Nam. Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khác nhau như: Chiến tranh, săn bắn, mất rừng, yếu kém và bất cập trong công tác quản lý,.
mà những loài Linh trưởng của Việt Nam đang đứng bên bờ vực của sự tuyệt chủng. Vì vậy nếu không có một cơ chế quản lý và bảo vệ Linh trưởng hiệu quả thì Việt Nam có thể sẽ đứng trước nguy cơ đánh mất những loài Linh trưởng quý hiếm, đặc hữu này, làm giảm tính đa dạng sinh học phong phú về loài của đất nước Việt Nam [2]. Công cuộc quản lý và bảo tồn Linh trưởng đã được quan tâm sâu sắc, cũng như được sự ủng hộ của nhà nước tuy nhiên kết quả đạt được là chưa cao và nhìn chung chưa có hiệu quả thiết thực. Các cơ quan chức năng như Kiểm lâm, cơ quan nòng cốt của nhà nước về quản lý và bảo tồn tài nguyên sinh vật rừng, trong đó có thú Linh trưởng, có trách nhiệm bảo vệ nguồn tài nguyên thiên này.
Nhưng thực tế thì lực lượng chuyên trách này vẫn còn nhiều hạn chế trong công tác, thiếu năng lực chuyên môn trong quản lý, thiếu kiến thức về bảo tồn tài nguyên rừng một cách có hiệu quả. Nhìn chung đội ngũ cán bộ này chưa được đào tạo cơ bản về lý thuyết cũng như thực hành về bảo tồn đa dạng sinh học, sự hiểu biết còn hạn chế về tầm quan trọng của công tác bảo tồn đa dạng sinh học nói chung và bảo vệ loài Linh trưởng nói riêng. Nhận thức được tầm quan trọng của công tác bảo tồn các loài Linh trưởng đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng của Việt Nam và thế giới mà đã từ lâu có nhiều tổ Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 4 chức nước ngoài đến Việt Nam và đã có nhiều dự án bảo tồn Linh trưởng tại đây. Nhiều dự án đã và đang đem lại những thành công đáng kể, điển hình có các tổ chức: Tổ chức FOR.Rrankfurt Zoological Society của CHLB Đức với dự án bảo tồn loài Vọoc gáy trắng tại VQG Phong Nha - Kẻ Bàng, tổ chức FFI với dự án bảo tồn dựa vào cộng đồng, tổ chức WWF với dự án Quỹ bảo tồn thiên nhiên quốc tế.
Mặc dù đã có sự quan tâm của các tổ chức trong và ngoài nước nhưng xét chung trên cả nước thì tình hình quản lý bảo tồn Linh trưởng vẫn chưa đem lại nhiều thành công, vậy nên đây là vấn đề được đặt lên hàng đầu trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học của Việt Nam ở hiện tại và trong tương lai. Cơ sở thực tiễn Với mục đích ngăn chặn tình trạng suy giảm động vật hoang dã, cách đây trên 50 năm, ngày 5/4/1963 Hội đồng Chính Phủ đã ban hành “Điều lệ tạm thời về săn bắn chim thú rừng”. Tuy vậy tình trạng suy giảm về nguồn tài nguyên động vật vẫn chưa được cải thiện một cách rõ rệt. Vì vậy một loạt những Quy định đã được ban hành, phản ánh được sự quan tâm sâu sắc của Nhà nước về vấn đề bảo tồn nguồn đa dạng sinh học của Việt Nam, như: + Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã, nguy cấp (CITES) năm 1973 Công ước CITES là bản hiệp ước giữa các quốc gia thành viên về việc kiểm soát việc buôn bán, trao đổi các loài động thực vật hoang dã để tránh tình trạng khai thác quá mức dẫn đến tình trạng tuyệt chủng.
Việt Nam là thành viên thứ 122 của Công ước này vào năm 1994. Công ước CITES gồm 25 điều và 3 phụ lục với khoảng 5.000 loài động vật và 25.000 loài thực vật, trong đó: • Phụ lục I: bao gồm những loài bị nguy cấp bị đe doạ tuyệt chủng. Việc buôn bán, trao đổi những loài trong phụ lục này cần phải có cả giấy phép xuất khẩu và giấy phép nhập khẩu cấp bởi cơ quan quản lý CITES của nước xuất khẩu và nước nhập khẩu. • Phụ lục II: bao gồm tất cả những loài mặc dù hiện chưa bị nguy cấp nhưng có thể dẫn đến tuyệt chủng nếu không khai thác hợp lý.
Việc buôn bán những loài này giữa các quốc gia cần có giấy phép xuất khẩu do cơ quan quản lý CITES nước xuất khẩu cấp. • Phụ lục III: bao gồm tất cả các loài mà mỗi nước thành viên quy định theo luật pháp của họ nhằm ngăn chặn hoặc hạn chế việc khai thác và cần thiết phải có sự hợp tác với các nước thành viên khác để kiểm soát việc buôn bán. Việc buôn bán những loài này cần có giấy phép xuất khẩu do cơ quan quản lý CITES nước xuất khẩu cấp. + Luật bảo vệ Phát triển rừng năm 1991 và Luật bảo vệ Phát triển rừng năm 2004 Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 Luật bắt đầu có hiệu lực từ 01/04/2005.
Theo đó, những hành vi săn, bắn, bắt, bẫy, nuôi nhốt, giết mổ động vật rừng trái phép bị nghiêm cấm. Đồng thời Luật cũng quy định việc khai thác, động vật rừng phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và tuân theo các quy định của pháp luật về bảo tồn động vật hoang dã. Việc kinh doanh, vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập, quá cảnh thực vật rừng, động vật rừng phải tuân theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập. + Luật đa dạng sinh học năm 2008 Luật bắt đầu có hiệu lực từ 01/7/2009.
Luật dành riêng một chương (Chương IV) với 18 điều quy định về bảo tồn và phát triển bền vững các loài sinh vật. Theo đó, các loài động vật hoang dã sẽ được xem xét đưa vào Danh mục loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ nhằm bảo vệ những vật nuôi đặc hữu hoặc có giá trị đang bị đe dọa tuyệt chủng, quy định loài hoang dã bị cấm khai thác và loài hoang dã được khai thác có điều kiện trong tự nhiên. Luật cũng quy định về khu bảo tồn, phân cấp khu bảo tồn và những hành vi bị cấm trong khu bảo tồn. + Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 03 tháng 3 năm 2006 của Chính phủ về thi hành Luật bảo vệ Phát triển rừng Nghị định gồm 7 chương, 29 điều, Nghị định quy định cụ thể tổ chức quản lý rừng, bảo vệ rừng, phát triển sử dụng rừng; qui định trách nhiệm, quyền hạn của chủ rừng.
Nghị định này thay thế Nghị định số 117/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ phát triển rừng năm 1992. + Nghị định số 65/2010/NĐ-CP ngày 11 tháng 6 năm 2010 của Chính phủ Quy định chi tiết hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đa dạng sinh học; Nghị định gồm 21 điều, nghị định quy định chế độ quản lý, bảo vệ các loài được ưu tiên bảo vệ. Trình tự, thủ tục thẩm định hồ sơ đề nghị đưa vào hoặc đưa ra khỏi danh mục loài được ưu tiên bảo vệ. Điều kiện nuôi trồng, cứu hộ, bảo quản nguồn gen và mẫu vật di truyền của loài được ưu tiên bảo vệ.
+ Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30 tháng 3 năm 2006 của Chính phủ về quản lý động vật rừng, thực vật rừng nguy cấp quý hiếm; Nghị định 32/2006/NĐ-CP đã phân chia động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm thành 02 nhóm tùy theo mức độ nguy cấp và sự bảo vệ của pháp luật đối với các loài đó. Trong đó: • Nhóm IB: Nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại; • Nhóm IIB: Hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại. + Nghị định số 82/2006/NĐ-CP ngày 10 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ về quản lý hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất, nhập nội, từ biển, quá cảnh, nuôi Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 sinh sản, nuôi sỉnh trưởng và trồng cấy nhân tạo các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm Nghị định quy định trình tự, thủ tục cụ thể hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu, nhập nội từ biển, quá cảnh, nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng, trồng cấy nhân tạo các loài động vật, thực vật (kể cả loài lai) hoang dã nguy cấp, quý, hiếm, bao gồm: • Mẫu vật các loài động vật, thực vật hoang dã quy định tại các Phụ lục I, II và III của Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES). • Mẫu vật các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Nghị định này thay thế Nghị định số 11/2002/NĐ-CP ngày 22 tháng 01 năm 2002 của Chính phủ về việc quản lý hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu và quá cảnh các loài động vật, thực vật hoang dã. + Nghị định số 117/2010/NĐ-CP ngày 24 tháng 14 năm 2010 của Chính phủ về tổ chức quản lý hệ thống rừng đặc dụng Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 3 năm 2011, Nghị định có 4 chương và 40 điều, trong đó quy định cụ thể các tiêu chí xác định các khu rừng đặc dụng.