MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài nghiên cứu Việt Nam nằm trong vùng Indo-Burma, một trong 35 điểm nóng về đa dạng sinh học trên toàn cầu, hơn nữa vùng này nằm trong top 10 điểm nóng nhất trên thế giới. Có rất nhiều loài sinh vật bị đe doạ, Việt Nam là một trong những nƣớc có tiềm năng đa dạng sinh học cao trên thế giới. Riêng về lớp Ếch nhái (Amphibia), số lƣợng loài ghi nhận ở Việt Nam tăng nhanh trong các thập kỷ gần đây: từ 82 loài vào năm 1996 lên 162 loài vào năm 2005 và 176 loài vào năm 2009 [6], [7], [8].
Tuy nhiên, các loài mới và ghi nhận mới vẫn liên tục đƣợc phát hiện trong 5 năm trở lại đây, hiện nay với khoảng 244 loài ếch nhái hiện đã ghi nhận ở nƣớc ta [34]. Điều này chứng tỏ sự đa dạng khu hệ ếch nhái của Việt Nam vẫn cần tiếp tục đƣợc nghiên cứu, đặc biệt là ở các nhóm loài sống trên núi cao hoặc các loài có đặc điểm hình thái giống nhau. Các khu rừng trên núi đá vôi chứa đựng nhiều dạng tiểu sinh cảnh khác nhau và đƣợc xem là các “đảo biệt lập trên cạn”, do vậy khu hệ động vật thƣờng mang tính đặc hữu cao [31]. Tuy nhiên, rừng trên núi đá vôi cũng là hệ sinh thái rất nhạy cảm trƣớc tác động của con ngƣời và một khi đã bị tác động thì rất khó phục hồi.
Các dải núi đá vôi ở Việt Nam đã và đang đƣợc khai thác và sử dụng thiếu bền vững cho mục đích phát triển cơ sở hạ tầng và kinh tế: Bên cạnh đó các hoạt động khai thác lâm sản, phát triển du lịch thiếu kiểm soát và biến đổi khí hậu đã có nhiều tác động tiêu cực đến các loài động vật sinh sống trong rừng trên núi đá vôi, đặc biệt là các loài động vật có thân nhiệt phụ thuộc vào môi trƣờng sống nhƣ các loài ếch nhái. Nghiên cứu về thành phần loài ếch nhái có ý nghĩa quan trọng trong việc góp phần đánh giá hiện trạng về đa dạng thành phần loài, bổ sung vào LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 danh lục loài còn thiếu, cung cấp các dẫn liệu về phân bố theo sinh cảnh và độ cao nhằm tạo cơ sở khoa học cho đề xuất một số biện pháp quản lý bền vững tài nguyên rừng nói chung và ếch nhái nói riêng, góp phần đánh giá giá trị đa dạng sinh học, làm cơ sở cho công tác quy hoạch bảo tồn của Khu bảo tồn Nam Động tỉnh Thanh Hóa. Chính vì vậy, tôi chọn đề tài “Nghiên cứu tính đa dạng thành phần loài và sự phân bố của các loài ếch nhái (amphibia) tại Khu bảo tồn các loài hạt trần quý hiếm Nam Động, tỉnh Thanh Hóa”. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu tổng quát: Góp phần vào bảo tồn đa dạng sinh học nói chung, tài nguyên ếch nhái tại Khu bảo tồn các loài hạt trần quý hiếm Nam Động, tỉnh Thanh Hóa.
- Mục tiêu cụ thể: + Đánh giá tính đa dạng thành phần loài và sự phân bố của các loài ếch nhái tại khu vực nghiên cứu; + Đề xuất giải pháp bảo tồn ếch nhái tại khu vực nghiên cứu (KVNC); + Xác định các nhân tố đe dọa và khuyến nghị các vấn đề liên quan đến các loài ếch nhái ở khu vực nghiên cứu. Nội dung nghiên cứu (1) Đánh giá tính đa dạng thành phần loài ếch nhái tại KVNC. (2) Mô tả đặc điểm hình thái các loài ếch nhái ghi nhận mới cho KVNC cũng nhƣ tỉnh Thanh Hóa. (3) Đánh giá đặc điểm phân bố của các loài ếch nhái theo đai độ cao, theo dạng sinh cảnh.
(4) So sánh mức độ tƣơng đồng về thành phần loài ếch nhái giữa các VQG, KBT có sinh cảnh tƣơng đồng ở Việt Nam. (5) Đánh giá các nhân tố đe dọa đến quần thể của các loài ếch nhái ở khu vực nghiên cứu và đề xuất các kiến nghị đối với công tác bảo tồn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn Kết quả nghiên cứu của đề tài luận văn sẽ cung cấp dẫn liệu khoa học về thành phần các loài ếch nhái, đặc điểm nhận dạng, sự phân bố và tình trạng của chúng tại KBT Nam Động.
Là cơ sở khoa học nhằm hỗ trợ công tác quy hoạch bảo tồn và sử dụng nguồn tài nguyên ếch nhái tại KBT Nam Động. Cung cấp bộ mẫu vật các loài ếch nhái nhằm phục vụ trong nghiên cứu và giảng dạy tại Trƣờng Đại học Lâm nghiệp Việt Nam. Những đóng góp của luận văn Đã phát hiện 01 loài ếch nhái mới cho khoa học. Đã ghi nhận bổ sung 06 loài ếch nhái cho tỉnh Thanh Hoá và cập nhật danh lục các loài ếch nhái cho KBT Nam Động gồm 46 loài thuộc 23 giống, 08 họ, 02 bộ.
Đánh giá đặc điểm phân bố các loài ếch nhái theo độ cao, theo sinh cảnh tại KBT Nam Động. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Lƣợc sử nghiên cứu về ếch nhái ở các nƣớc trong khu vực Theo Frost (2019) tổng số loài ếch nhái trên thế giới ghi nhận đến thời điểm hiện nay là hơn 8. Số lƣợng các loài ếch nhái đƣợc định danh tăng lên đáng kể từ 6.000 loài vào thời điểm hiện tại [35].
Mức độ đa dạng sinh học cao nhất đƣợc ghi nhận ở các khu vực rừng mƣa nhiệt đới với khoảng 50% tổng số loài đã đƣợc định danh và còn có số lƣợng rất lớn các loài chƣa đƣợc mô tả [16]. Ếch nhái là nhóm động vật có xƣơng sống biến nhiệt, vì vậy, những nghiên cứu về mức độ đa dạng của các loài ếch nhái thƣờng đƣợc tiến hành ở các vùng nhiệt đới nhƣ Châu Phi, Nam Mỹ và Châu Á. Trên thế giới có rất nhiều công trình công bố có liên quan đến phân loại, sinh thái và quan hệ di truyền của các loài ếch nhái, tuy nhiên, ở phần này chúng tôi chỉ nêu sơ lƣợc tình hình nghiên cứu theo hƣớng của đề tài ở các nƣớc giáp ranh với Việt Nam: Ở Trung Quốc: Zhao & Adler (1993) ghi nhận có 274 loài ếch nhái [74]. Số lƣợng loài ếch nhái đã tăng lên đến 370 loài trong công bố của Fei et al.
Từ năm 2010 đến nay có một số loài mới đƣợc mô tả với mẫu vật thu ở hai tỉnh Quảng Tây và Vân Nam, Trung Quốc giáp ranh với Việt Nam nhƣ: Odorrana lipuensis Mo, Chen, Wu, Zhang & Zhou, O. fengkaiensis Wang, Lau, Yang, Chen, Liu, Pang & Liu, Limnonectes longchuanensis Suwnnapoom, Yuan, Chen, Hou, Zhao, Wang, Nguyen, Murphy, Sullivan, McLeod & Che, Rhacophorus pinglongensis Mo, Chen, Liao & Zhou, Amolops xinduquiao Fei, Ye, Wang & Jiang, Liuixalus feii Yang, Rao & Wang [34]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Ở Lào: Số lƣợng loài ếch nhái tăng từ 58 loài trong công bố của Stuart (1999) lên khoảng 153 loài vào thời điểm hiện tại [62], [35]. Trong đó có nhiều loài mới và ghi nhận mới đƣợc phát hiện trong thời gian gần đây nhƣ Rhacophorus spelaeus Orlov, Gnophanxay, Phimminith & Phomphoumy, 2010[56], Theloderma lacustrium Sivongxay, Niane, Davankham, Phimmachak, Phoumixay & Stuart, 2016 [66]; cùng một số ghi nhận mới ở vùng biên giới giáp với Việt Nam nhƣ Gracixalus supercornutus, G.
quyeti, Rhacophorus maximus [49]. Ở Cam-pu-chia: Có một số nghiên cứu tập trung ở dãy núi Cardamom ở miền Nam Cam-pu-chia nhƣ: Ohler et al. (2002) ghi nhận 34 loài ếch nhái [54], Grismer et al. Stuart et al.
Hartmann et al. Hiện nay, ở Cam-pu-chia ghi nhận khoảng 79 loài [34]. Ở Thái Lan: Công trình nghiên cứu tổng hợp nhất về khu hệ ếch nhái ở Thái Lan của Taylor (1962) đã ghi nhận 125 loài [70]. Hiện nay, ở Thái Lan ghi nhận khoảng 182 loài [34].
Trong đó có nhiều loài mới đƣợc mô tả trong thời gian gần đây nhƣ loài Tylototriton pahai Nishikawa, Khonsue, Pomchote, Matsui, 2013 và T. uyenoi Nishikawa, Khonsue, Pomchote & Matsui, 2013 [50], Limnonectes lauhachindai Aowphol, Rujirawan, Taksintum, Chuaynkern & Stuart, 2015 [23], Fejervarya chiangmaiensis Suwannapoom, Yuan, Poyarkov, Yan, Kamtaeja, Murphy & Che, 2016 [64], hay loài Tylototriton anguliceps Le, Nguyen, Nishikawa, Nguyen, Pham, Matsui, Bernardes & Nguyen, 2015 đƣợc phát hiện và mô tả năm 2015 có phân bố ở Thái Lan và Việt Nam [46]. Số lƣợng loài ếch nhái trên thế giới rất đa dạng với nhiều khám phá mới trong thời gian gần đây, tuy nhiên có tới gần một phần ba số lƣợng các LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 loài đang bị đe dọa ở cấp độ khác nhau trên quy mô toàn cầu. Trong hai thập kỉ qua đã có tới gần 168 loài đƣợc cho là đã tuyệt chủng và ít nhất khoảng 2.500 loài có quần thể bị đe dọa suy giảm [67].
Riêng vùng Đông Phƣơng (Oriental) đã có khoảng 41 loài bị tuyệt chủng hoàn toàn (EX), bị tuyệt chủng ngoài tự nhiên (EW) hoặc cực kỳ nguy cấp (CR) và 266 loài nguy cấp (EN) hoặc sẽ nguy cấp (VU) [67]. Rowley et al. Rowley et al. Nhận xét: Các nghiên cứu về ếch nhái ở các nƣớc trong khu vực trong thời gian gần đây có nhiều phát hiện mới.
Tuy nhiên, nhiều loài ếch nhái đang đứng trƣớc nguy cơ tuyệt chủng với hơn 30% loài bị đe dọa do nhiều nguyên nhân khác nhau. Để bảo tồn các loài ếch nhái bên cạnh tiến hành kiểm kê xác định thành phần loài cần thiết phải đánh giá hiện trạng, nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái, tập tính, quan hệ di truyền làm cơ sở khoa học cho việc bảo tồn bền vững. Riêng lĩnh vực khám phá đa dạng về thành phần loài, ếch nhái vẫn là nhóm động vật có tiềm năng về khám phá loài mới và ghi nhận bổ sung vùng phân bố, đặc biệt là các nhóm có đặc điểm hình thái giống nhau. Lƣợc sử nghiên cứu về ếch nhái ở Việt Nam Các nghiên cứu về khu hệ và phát hiện mới Theo Nguyễn Văn Sáng và cs.
(2009), nghiên cứu về ếch nhái ở Việt Nam có lịch sử khá lâu đời nhƣng bắt đầu phát triển mạnh vào các giai đoạn cuối thế kỷ 19, giữa và cuối thế kỷ 20 và đặc biệt là những năm đầu thế kỷ 21, đã có hàng loạt công trình công bố về loài mới vào nửa đầu thế kỷ 20 nhƣng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 đáng chú ý có công trình của Bourret (1942) mang tựa đề Les Batraciens de l’Indochine [8], [26]. Cuốn sách đã mô tả 171 loài và phân loài ếch nhái ở vùng Đông Dƣơng (Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia), đây có thể coi là tài liệu đầy đủ nhất về ếch nhái trong khu vực vào giữa thế kỷ XX. Năm 1977, Đào Văn Tiến đã công bố khóa định loại 87 loài ếch nhái trong bài báo “Về định loại ếch nhái Việt Nam” [12].