MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Vƣờn quốc gia (VQG) Kon Ka Kinh nằm trên cao nguyên Kon Tum, thuộc khu vực giữa Đông và Tây của dãy Trƣờng Sơn, một trong bốn vƣờn quốc gia của Việt Nam (Ba Bể, Chƣ Mom Ray, Hoàng Liên, Kon Ka Kinh) đƣợc công nhận vƣờn di sản ASEAN. Vƣờn quốc gia Kon Ka Kinh nằm ở nơi có sự đa dạng, phức tạp về địa hình, đã tạo nên tính đa dạng về sinh thái và các loài sinh vật, ở đây có những đặc thù sinh học độc đáo của vùng Cảnh quan Trung Trƣờng Sơn, một số cộng đồng thực vật và động vật nguyên vẹn nhất còn lại ở Việt Nam. Trong đó, đặc biệt gần 2.000 ha rừng hỗn giao lá rộng - lá kim, kiểu rừng chỉ tìm thấy VQG Kon Ka Kinh trong hệ thống rừng đặc dụng Việt Nam. Các nghiên cứu tại VQG Kon Ka Kinh đã ghi nhận đƣợc 1.022 loài thực vật thuộc 568 chi.
Trong đó có 22 loài thực vật bị đoe dọa tuyệt chủng ở cấp độ quốc gia (sách đỏ Việt Nam 2007) và cấp độ toàn cầu (IUCN 2010). Đặc biệt có rất nhiều loài thực vật đặc hữu, quý hiếm cần phải bảo tồn nguồn gen nhƣ Thông Đà Lạt ( Pinus dalatensis ), Gõ đỏ (Afzelia xylocarpa), Trắc (Dalbergia cochinchinensis), Trầm hƣơng (Aquilaria crassna), Giáng hƣơng (Pterocarpus macrocarpus), Re hƣơng (Cinnamomum parthenoxyon), Hồ da nhỏ (Hoya minima costantin). Hệ động vật của Vƣờn quốc gia Kon Ka Kinh cũng vô cùng đa dạng và phong phú với tổng số 556 loài, thuộc 91 họ và 30 bộ. Hệ động vật của Vƣờn đã nghi nhận đƣợc 16 loài thú lớn đặc hữu cho khu vực Đông Dƣơng và Việt Nam nhƣ Vooc vá chân xám (Pygathrix nemaeus), Mang trƣờng sơn (Muntiacus truongsonensis).
Lớp chim có 7 loài đặc hữu. trong đó có 3 loài đặc hữu cho việt nam: Khƣớu đầu đen (Garulax millet), Khƣớu mỏ dài (Jabouilleia danjoui) và Khƣớu Kon Ka Kinh (Garulax konkakinhensis). Lớp bò sát, ếch nhái có 4 loài đặc hữu của Việt Nam và loài Thằn lằn buôn lƣới (Shpnenomorphus buonluoicus) là một loài đặc hữu cho vùng Nam Trƣờng Sơn [7] [13] [14]. VQG Kon Ka Kinh còn có sự đa dạng về thú linh trƣởng, với 7 loài linh trƣởng đã đƣợc ghi nhận gồm Khỉ mặt đỏ (Macaca arctoides), Khỉ đuôi lợn Bắc (Macaca leonina), Khỉ Vàng (Macaca mulatta), Vooc Chà Vá Chân xám (Pygathrix cinerea), Luan van 2 Vƣợn đen má vàng Bắc (Nomascus annamensis), Cu li lớn (Nycticebus bengalensis), và Cu li nhỏ (Nycticebus pygmaeus).
Cùng với đó nhiều nghiên cứu về linh trƣởng đã đƣợc tiến hành tại VQG Kon Ka Kinh nhƣ “Nghiên cứu về số lƣợng và phân bố loài Chà vá chân xám (Ngọc Thanh và cs, 2008)”, “Khảo sát vùng phân bố của Vƣợn đen má hung phía Bắc (Hà Thăng Long và cs, 2011)” hay đề tài “Khảo sát vùng phân bố các loài thuộc nhóm Macaca (Trần Hữu Vỹ, 2013)” [9]. Trong khi đó tại VQG Kon Ka Kinh chƣa có một nghiên cứu cụ thể nào đối với loài Cu li nhỏ về vùng phân bố, mật độ, tập tính và các tác động, những nghiên cứu trƣớc đây thƣờng dừng lại ở khảo sát và định danh loài trong các chƣơng trình điều tra đa dạng sinh học của VQG. Và trong những năm gần đây các tác động đến loài Cu li nhỏ ngày càng tăng cao, đã làm suy giảm rất nhiều số lƣợng loài này ngoài tự nhiên. Nhƣ việc mất môi trƣờng sống, bởi tình trạng khai thác gỗ, phá rừng làm nƣơng rẫy của ngƣời dân địa phƣơng và việc săn bắt loài này phục vụ nhu cầu tiêu thụ động vật hoang dã trong nƣớc và khu vực.
Xuất phát từ thực tế trên, để cung cấp những thông tin khoa học về vùng phân bố và các tác động đến loài Cu li nhỏ nhằm góp phần vào công tác quản lý và bảo tồn loài tại VQG Kon Ka Kinh. Tôi tiến hành đề tài: “ Nghiên cứu mật độ, vùng phân bố và đề xuất một số giải pháp bảo tồn loài Cu li nhỏ (Nycticebus pygmaeus) tại khu vực phía Nam Vƣờn Quốc Gia Kon Ka Kinh, tỉnh Gia Lai ”. Mục tiêu đề tài - Xác định đƣợc vùng phân bố, mật độ phân bố, đặc điểm phân bố và các tác động đến loài Cu li nhỏ tại khu vực phía Nam Vƣờn quốc gia Kon Ka Kinh. Nội dung nghiên cứu - Điều tra mật độ và vùng phân bố của loài Cu li nhỏ tại khu vực phía Nam VQG Kon Ka Kinh - Xác định các đặc điểm phân bố của loài Cu li nhỏ theo sinh cảnh rừng và theo độ cao tại khu vực phía Nam VQG Kon Ka Kinh Luan van 3 - Xác định các yếu tố tác động đến quần thể loài Cu li nhỏ tại khu vực phía Nam VQG Kon Ka Kinh.
Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa khoa học: Cung cấp các thông tin khoa học về vùng phân bô, mật độ, đặc điểm phân bố và các tác động đến loài Cu li nhỏ tại khu vực phía Nam VQG Kon Ka Kinh. - Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả của nghiên cứu góp phần vào công tác bảo tồn loài Cu li nhỏ tại khu vực phía Nam VQG Kon Ka Kinh hiệu quả hơn. Luan van 4 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.Tổng quan về những nghiên cứu trƣớc đây về Cu li trên thế giới Trên thế giới loài Cu li nhỏ đã đƣợc quan tâm và có rất nhiều nghiên cứu về loài, các nghiên cứu này tập trung vào khảo sát vùng phân bố, mô tả định danh loài, các tập tính và sinh thái dƣỡng, các tác động đến loài.
Có thể kể đến các nghiên cứu nhƣ: Khảo sát loài Cu li nhỏ ở tỉnh Mondulkiri, Cam-pu-chia (Starr & cs, 2011) đƣợc thực hiện tại ba khu dự trữ ở tỉnh Mondulkiri. Nghiên cứu đƣợc thực hiện qua 29 tuyến khảo sát với chiều dài 129,5km và kết quả đã quan sát đƣợc 26 cá thể Cu li nhỏ. Vào cuối năm 2008 và 2009, nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát lại ba tuyến cắt ngang ở khu vực có tỷ lệ gặp cao nhất nhƣng không phát hiện đƣợc bất kỳ cá thể Cu li nào. Những nhà cung cấp thông tin địa phƣơng đã có những báo cáo về việc suy giảm này do tình hình săn bắn cao, và hoạt động đi vào rừng của ngƣời dân địa phƣơng.
Vì vậy nhóm nghiên cứu đã đề xuất cần có các hành động cấp bách để giải quyết tình trạng giảm số lƣợng và bảo tồn của Cu li trên khắp miền đông Cam-pu-chia [16]. Kết quả chƣơng trình “ Điều tra phỏng vấn về 2 loài Cu li (Cu li lớn và Cu li nhỏ) nhỏ phục vụ công tác bảo tồn tại Cam-pu-chia (Carly starr & cs, 2010)”, kết quả cho thấy từ năm 1990 đã xác định việc bán một số lƣợng lớn Cu li lớn và Cu li nhỏ ở các cửa hàng y học cổ truyền. Nhóm nghiên cứu đã thực hiện các cuộc phỏng vấn để xác định tình hình tiêu thụ, mục đích và các đối tƣợng sử dụng Cu li. Theo kết quả điều tra, Cu li nhỏ đƣợc ghi nhận là động vật đƣợc yêu cầu nhiều nhất từ các cửa hàng thuốc đông y ở thủ đô Phnom Penh (Cam-pu-chia), Cu li chủ yếu đƣợc sử dụng làm thuốc bổ cho phụ nữ sau khi sinh, các vấn đề về dạ dày, mau lành vết thƣơng, và điều trị các bệnh lây truyền qua đƣờng tình dục.
Giá trị thị trƣờng của cả hai loài tăng gấp đôi từ năm 1997 đến năm 2007, tuy nhiên đa số ngƣời trả lời tỏ ra miễn cƣỡng khi có đề xuất thay thế các sản phẩm từ Cu li với các loại thuốc thay thế. Cu li đƣợc báo cáo có nguồn gốc từ các tỉnh có các khu bảo tồn lớn và có sự phân bố của loài Cu li. Kết quả cho thấy rằng việc thúc đẩy các lựa chọn thay thế sẽ đƣợc xem nhƣ một phƣơng pháp bảo tồn thích hợp, kết hợp giáo dục và tăng cƣờng thực thi pháp luật để bảo tồn các loài Cu li ở Campuchia [17]. Luan van 5 Và nghiên cứu về dinh thái dƣỡng của loài Cu li nhỏ (Nycticebus pygmaeus), (Streicher & cs, 2007).
Nhóm đã tiến hành điều tra chế độ ăn uống của loài Cu li nhỏ trong rừng hỗn giao ở Rừng phòng hộ Seima, Đông Cam-pu-chia và xác định tầm quan trọng của các nguồn thức ăn trong chế độ ăn uống của chúng. Nhóm đã tiến hành nghiên cứu các hành vi ăn của 6 cá thể cái và 7 cá thể đực bằng phƣơng pháp theo dõi sóng vô tuyến và phân tích mẫu phân đƣợc từ tháng 2 đến tháng 5 và từ tháng 1 đến tháng 3 năm 2008 và năm 2009. Kết quả ghi nhận đƣợc khi quan sát 168 chu kỳ ăn của chúng, thành phần thức ăn của chúng gồm: các động vật nhỏ, hoa quả, động vật chân đốt, phấn hoa, nấm, các bộ phận của tre, và bò sát. Cùng với kết quả phân tích các mẫu phân đã ghi nhận các bộ phận của thực vật, các động vật chân đốt nhỏ (chủ yếu bộ cánh cứng và cánh vảy), các vảy bò sát, xƣơng động vật, và lông động vật.
Từ đó nhóm nghiên cứu đã kết luận, loài Cu li nhỏ có thành phần thức ăn vô cùng phong phú và thay đổi theo môi trƣờng sống [23]. Tổng quan về những nghiên cứu trƣớc đây về Cu li ở Việt Nam Tại Việt Nam đã có một số nghiên cứu về Cu li trƣớc đây, tuy nhiên những nghiên cứu chỉ ở mức khảo sát sơ bộ, định danh loài trong các đề tài đánh giá đa dạng sinh học, chƣa có nghiên cứu nào mang tính chuyên sâu về loài. Có thể kể đến một vài nghiên cứu nhƣ: Khảo sát đa dạng sinh học tại VQG Phong Nha- Kẻ Bàng, Quảng Bình, (FFI, 2012). Kết quả nghiên cứu ghi nhận đƣợc sự có mặt của 22 loài thú ăn thịt nhỏ và Cu li gồm Cu li lớn và Cu li nhỏ, 9 loài chồn, 9 loài cầy và 2 loài cầy lỏn.
Nhƣng chỉ có 13/22 loài có ghi nhận trực tiếp thông qua quan sát hoặc mẫu vật, trong đó có 2 loài Cu li [8]. Ghi nhận ban đầu về khu hệ linh trƣởng của khu đề xuất bảo tồn A YunPa, Gia Lai (Trần Văn Bằng, Hoàng Minh Đức, 2012) tại Hội nghị Khoa học quốc tế Sinh thái và Tài nguyên sinh vật lần thứ VI. Kết quả đã ghi nhận đƣợc 06 loài linh trƣởng ở khu vực với 5 loài xác định chắc chắn và 1 loài đƣợc ghi nhận tạm thời, tại 3 kiểu sinh cảnh rừng chính gồm rừng thƣờng xanh nhiệt đới núi thấp, rừng nửa rụng lá nhiệt đới núi thấp và rừng rụng lá nhiệt đới núi thấp. Trong đó Cu li đƣợc gi nhận với 2 cá thể trong kiểu rừng hỗn giao, tre nứa [11].