ĐẶT VẤN ĐỀ Voi Châu Á (Elephasmaximus) thuộc họ Voi (Proboscidea), bộ có vòi (Proboscide) là loài thú có giá trị bảo tồn cao. Danh lục đỏ của IUCN (2011) xếp loài ở mức nguy cấp (EN); Sách Đỏ Việt Nam (2007) xếp mức rất nguy cấp (CR); loài thuộc nhóm IB của Nghị định số 32/2006/NĐ-CP; Phụ lục I của công ước CITES và Nghị định số 160/2013/NĐ-CP cũng đã đưa Voi vào danh mục các loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ. Hiện nay loài Voi châu Á hoang dã trong tự nhiên tại Việt Nam phân bố rất hạn chế mà chủ yếu phân bố tại 3 tYnh Nghệ An, Đồng Nai, Đắk Lắk. Tại Đắk Lắk cũng chY có 3 khu vực là huyện Buôn Đôn, Ea Súp, và Ea H’leo nơi có sinh cảnh rừng khộp với các kiểu trạng thái rừng và ưu hợp khác nhau tạo nên nhiều sinh thái cảnh quan đặc trưng cho kiểu rừng lá rộng, họ dầu rụng lá theo mùa còn hiện diện những đàn Voi rừng ở tYnh Đắk Lắk (Bảo Huy và cộng sự, 2009).
Với tập tính hoạt động và di chuyển của loài thú hoang dã lớn và nhu cầu về nguồn thức ăn, Voi có phạm vi hoạt động rộng ngoài tự nhiên nhưng trong những năm trở lại đây do những thay đổi lớn về điều kiện tự nhiên và tác động nhiều mặt của con người đã làm thay đổi khu vực phân bố tự nhiên của Voi ngày càng bị thu hẹp. Nơi sống và hành lang di chuyển của Voi hoang dã là những diện tích rừng tự nhiên còn lại quá ít so với trước đây. Trong khi Voi cần sinh cảnh sống, mà rừng tự nhiên vẫn đang tiếp tục bị khai thác, tác động, nhiều diện tích bị phá, lấn chiếm và xâm canh hoặc chuyển đổi mục đích sử dụng khác như đất canh tác, dân cư, công trình khác …khi diện tích rừng tự nhiên bị con người tác động thì sinh cảnh và hành lang di chuyển của Voi bị chia cắt manh mún, điều này đã ảnh hưởng lớn đến sự tồn tại của Voi. Để thích ứng với điều kiện sống mới thay đổi, những quần thể Voi còn lại buộc phải thu hẹp nơi ở, khu vực di chuyển và kiếm ăn.
Tương tác giữa người và Voi trong điều kiện như vậy thường dẫn đến các tác động tiêu cực cho cả hai bên nên xung đột Voi - Người 1 0 0 (Human Elephant Conflict - HEC) ngày càng trở nên gay gắt ở tất cả các địa phương còn Voi. Xung đột Voi - Người là tình trạng chung của tất cả các quốc gia có Voi. Vấn đề này được cả thế giới quan tâm và hợp tác trong chia sẻ thông tin, kinh nghiệm để ứng phó và giảm nhẹ ảnh hưởng, tác động nhằm hài hòa giữa bảo tồn Voi và phát triển kinh tế - xã hội của người dân, cộng đồng các địa phương chịu ảnh hưởng từ HEC. Tại Việt Nam, xung đột Voi - Người diễn ra khá thường xuyên ở những vùng còn Voi hoang dã phân bố.
Riêng tại Đắk Lắk là một trong những tYnh còn Voi rừng, là điểm nóng về xung đột Voi - Người. Một số đàn Voi thường về nương rẫy phá hoại hoa màu, nhà cửa… số lần xung đột giữa Voi rừng với con người ngày càng gia tăng. Hậu quả là có nhiều Voi bị chết cũng như con người bị Voi sát hại và thiệt hại về kinh tế do Voi gây ra rất lớn. Tại các địa phương vùng đệm Vườn quốc gia (VQG) Yok Don, các năm gần đây xung đột Voi - Người bắt đầu xuất hiện thường xuyên hơn, nó thể hiện cả ở tần suất xuất hiện cũng như phạm vi và mức độ thiệt hại đều tăng so với trước đây.
Vì vậy, để góp phần cung cấp dữ liệu về đặc điểm xuất hiện, di chuyển của Voi rừng và mức độ thiệt hại do Voi rừng tại các khu đất canh tác của người dân; làm cơ sở đề xuất hướng giải pháp giảm nhẹ xung đột Voi - Người, trong các khu vực canh tác của người dân địa phương vùng đệm và bảo tồn Voi rừng tại VQG Yok Don, trong khuôn khổ của Luận văn cao học, tôi thực hiện nghiên cứu: “Đặc điểm xuất hiện của Voi rừng và thiệt hại do xung đột Voi - Người tại vùng đệm Vườn quốc gia Yok Don”. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Trên thế giới 1.1 Tình trạng phân bố của Voi Châu Á Những nghiên cứu về loài Voi Châu Á ngoài tự nhiên chủ yếu tập trung ở lĩnh vực điều tra, đánh giá tình trạng và xác định vùng phân bố của loài. Tiêu biểu là các công trình: Sukumar và cộng sự (2001), Alongkot Chukaew (2005); Li Zhang (2007). Tuy nhiên những điều tra đánh giá này mới tập trung ở một số quốc gia có số lượng cá thể Voi nhiều như: Sri Lanka, Thái Lan, Ấn Độ, Indonesia, Campuchia.
Do phạm vi nghiên cứu rộng trên toàn quốc, nên hầu như các nghiên cứu của các tác giả trên chY dừng lại ở việc ước lượng số cá thể Voi trong từng vùng phân bố, rất ít nghiên cứu mô tả được cấu trúc các quần thể loài ở những địa phương, khu vực cụ thể trong mỗi vùng lãnh thổ. Năm 2003, Prajna Chowta đã tổng hợp kết quả điều tra của nhiều tác giả để công bố số lượng cá thể Voi Châu Á trên thế giới trong tạp chí Văn hóa của Đại sứ quán Ấn Độ tại Paris, Pháp và có được kết quả như sau (Bảng 1. 1 Số lượng Voi hoang dã phân bố tại Châu Á TT Quốc gia Ước tính nhỏ nhất Ước tính lớn nhất 1 Bhutan 60 150 2 Burma 5.000 10 Nepal 50 85 11 Sri Lanka 2.000 13 Vietnam 200 300 Tổng cộng 35.385 (Nguồn: Prajna Chowta, 2003) 3 0 0 Như vậy, theo ước tính có khoảng 35.385 cá thể Voi Châu Á phân bố tại 13 quốc gia. Theo số liệu thống kê cho thấy Việt Nam là một trong số 4 quốc gia có số lượng Voi Châu Á dưới 1.
Tại Việt Nam chưa có đợt điều tra tổng thể để thống kê số lượng Voi rừng trong các vùng, miền trên toàn quốc; số liệu về Voi được tập hợp từ các báo cáo điều tra khác nhau trong nhiều năm nên thông tin về số lượng cá thể đôi khi chưa thống nhất, còn mang tính suy luận.2 Nghiên cứu về xung đột Voi – Người Nghiên cứu về xung đột người và voi được chú trọng trong những năm gần đây, khi các xung đột giữa người và Voi ngày càng gia tăng tại các châu lục, quốc gia nơi có voi hoang dã sinh sống. xung đột Voi - Người gây ra hậu quả lớn về kinh tế, xã hội, môi trường và ảnh hưởng lớn tới chất lượng cuộc sống của các cộng đồng địa phương, xung đột Voi - Người cũng là một nguyên nhân dẫn đến sự suy giảm nhanh chóng số lượng voi hoang dã khi người dân quay lại sát hại Voi vì lý do phá hoại mùa màng tài sản của họ. Để đưa ra các giải pháp giảm thiểu xung đột Voi - Người, trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu, ghi nhận về xung đột Voi - Người. Tại Châu Phi, sự phá hoại mùa màng của Voi đã bắt đầu khoảng đầu thế kỷ XX, khi mà chính quyền thực dân khuyến khích thợ săn bắn chết những con Voi có vấn đề bằng cách cho phép họ được lấy ngà của những con Voi phạm tội (Carrington, 1958).
Đối với Châu Phi, mặc dù vấn đề Voi phá hoại mùa màng, hoa màu của người dân cũng có xảy ra nhưng thật ra nó không trầm trọng như tại Châu Á. Với diện tích rừng và đất đai rộng lớn, Voi Châu Phi được sinh sống trong những khu rừng hoặc công viên quốc gia vô cùng rộng lớn, đảm bảo cho việc di chuyển và đầy đủ thức ăn. Có rất nhiều Công viên quốc gia hoặc khu dự trữ ở Châu Phi có thể rộng bằng cả một tYnh của Việt Nam. Vấn đề của Voi Châu Phi chính là nạn săn bắn, giết hại voi để lấy ngà và nghành công nghiệp buôn bán ngà Voi đã làm suy giảm số lượng Voi tưởng chừng như vô cùng phong phú 4 0 0 ở các nước Châu Phi.
Buôn bán ngà Voi đã trở thành một mối đe dọa nghiêm trọng trong giai đoạn từ 1980 đến nay. Tại Châu Á, xung đột Voi - Người không phải là một hiện tượng mới ở các nước thuộc khu vực Châu Á và đây là mối đe doạ chủ chốt tới sự sống còn của các loài vật (FAO, 1996). Nhiều bằng chứng cho thấy sự xung đột gia tăng, tY lệ với diện tích rừng bị mất đi vì nhu cầu cuộc sống của mỗi con người (Trịnh Việt Cường, 1999). Mishra (1971) đã đánh giá thiệt hại kinh tế do voi gây ra ở miền trung Ấn Độ và ghi chú rằng vấn đề này gia tăng đáng kể từ năm 1950, từ chỗ chY là một sự quấy rầy nhỏ đến nay xung đột Voi - Người đã trở thành một vấn đề lớn.
Theo nhận định của Nhóm chuyên gia Voi Châu Á, kết quả nghiên cứu HEC xảy ra vì con người và Voi có chồng chéo lợi ích. Xung đột thường xảy ra tại các khu vực được con người canh tác, bảo vệ (Hart và O'Connell, năm 1998 tại Nelson et al,2003). Trong hầu hết trường hợp xung đột là phá hoại cây trồng và các tài sản vật chất. Nguyên nhân cơ bản của xung đột là mất môi trường sống (Desai, 2002).
Như vậy, qua tổng quan về xung đột Voi - Người ở một số quốc gia trên thế giới đã được nghiên cứu từ đầu thế kỷ 20 và đã rút ra được nhiều kết luận có ý nghĩa. Đó là mô tả được hiện trạng xung đột, đánh giá mức thiệt hại, mức độ xung đột, nguyên nhân xung đột đã được đánh giá từ cả 2 khía cạnh đó là con người và Voi, vai trò trách nhiệm của Chính phủ cũng đã được phân tích về trách nhiệm đền bù thiệt hại cho nông dân khi bị Voi tấn cộng, và để giảm thiểu xung đột một số nước như Ấn Độ đã sử dụng các công cụ công nghệ cao như GIS và viễn thám để giám sát voi, Thái Lan đã đầu tư hàng trăm triệu USD để xây dựng hàng rào điện ngăn chặn Voi. Từ những nhận định trên thấy rằng nghiên cứu nhằm giảm xung đột Voi - Người tại Việt Nam nói chung và Đắk Lắk nói riêng rất cần có sự quan tâm của các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương 5 0 0 và những chính sách đi kèm, cùng với những hỗ trợ tài chính và kỹ thuật thích ứng.1 Tình trạng phân bố của Voi Trước đây, Voi ở Việt Nam có vùng phân bố khá rộng từ vùng biên giới Tây Bắc cho tới các tYnh Tây Nguyên và Miền Đông Nam Bộ (Đỗ Tước, 1991).