CHƯƠNG I. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Trên thế giới 1.1 Tình trạng phân bố của Voi Châu Á Những nghiên cứu về loài Voi Châu Á ngoài tự nhiên chủ yếu tập trung ở lĩnh vực điều tra, đánh giá tình trạng và xác định vùng phân bố của loài. Tiêu biểu là các công trình: Sukumar và cộng sự (2001), Alongkot Chukaew (2005); Li Zhang (2007). Tuy nhiên những điều tra đánh giá này mới tập trung ở một số quốc gia có số lượng cá thể Voi nhiều như: Sri Lanka, Thái Lan, Ấn Độ, Indonesia, Campuchia.
Do phạm vi nghiên cứu rộng trên toàn quốc, nên hầu như các nghiên cứu của các tác giả trên chY dừng lại ở việc ước lượng số cá thể Voi trong từng vùng phân bố, rất ít nghiên cứu mô tả được cấu trúc các quần thể loài ở những địa phương, khu vực cụ thể trong mỗi vùng lãnh thổ. Năm 2003, Prajna Chowta đã tổng hợp kết quả điều tra của nhiều tác giả để công bố số lượng cá thể Voi Châu Á trên thế giới trong tạp chí Văn hóa của Đại sứ quán Ấn Độ tại Paris, Pháp và có được kết quả như sau (Bảng 1. 1 Số lượng Voi hoang dã phân bố tại Châu Á TT Quốc gia Ước tính nhỏ nhất Ước tính lớn nhất 1 Bhutan 60 150 2 Burma 5.000 10 Nepal 50 85 11 Sri Lanka 2.000 13 Vietnam 200 300 Tổng cộng 35.385 (Nguồn: Prajna Chowta, 2003) 3 0 0 Tieu luan Như vậy, theo ước tính có khoảng 35.385 cá thể Voi Châu Á phân bố tại 13 quốc gia. Theo số liệu thống kê cho thấy Việt Nam là một trong số 4 quốc gia có số lượng Voi Châu Á dưới 1.
Tại Việt Nam chưa có đợt điều tra tổng thể để thống kê số lượng Voi rừng trong các vùng, miền trên toàn quốc; số liệu về Voi được tập hợp từ các báo cáo điều tra khác nhau trong nhiều năm nên thông tin về số lượng cá thể đôi khi chưa thống nhất, còn mang tính suy luận.2 Nghiên cứu về xung đột Voi – Người Nghiên cứu về xung đột người và voi được chú trọng trong những năm gần đây, khi các xung đột giữa người và Voi ngày càng gia tăng tại các châu lục, quốc gia nơi có voi hoang dã sinh sống. xung đột Voi - Người gây ra hậu quả lớn về kinh tế, xã hội, môi trường và ảnh hưởng lớn tới chất lượng cuộc sống của các cộng đồng địa phương, xung đột Voi - Người cũng là một nguyên nhân dẫn đến sự suy giảm nhanh chóng số lượng voi hoang dã khi người dân quay lại sát hại Voi vì lý do phá hoại mùa màng tài sản của họ. Để đưa ra các giải pháp giảm thiểu xung đột Voi - Người, trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu, ghi nhận về xung đột Voi - Người. Tại Châu Phi, sự phá hoại mùa màng của Voi đã bắt đầu khoảng đầu thế kỷ XX, khi mà chính quyền thực dân khuyến khích thợ săn bắn chết những con Voi có vấn đề bằng cách cho phép họ được lấy ngà của những con Voi phạm tội (Carrington, 1958).
Đối với Châu Phi, mặc dù vấn đề Voi phá hoại mùa màng, hoa màu của người dân cũng có xảy ra nhưng thật ra nó không trầm trọng như tại Châu Á. Với diện tích rừng và đất đai rộng lớn, Voi Châu Phi được sinh sống trong những khu rừng hoặc công viên quốc gia vô cùng rộng lớn, đảm bảo cho việc di chuyển và đầy đủ thức ăn. Có rất nhiều Công viên quốc gia hoặc khu dự trữ ở Châu Phi có thể rộng bằng cả một tYnh của Việt Nam. Vấn đề của Voi Châu Phi chính là nạn săn bắn, giết hại voi để lấy ngà và nghành công nghiệp buôn bán ngà Voi đã làm suy giảm số lượng Voi tưởng chừng như vô cùng phong phú 4 0 0 Tieu luan ở các nước Châu Phi.
Buôn bán ngà Voi đã trở thành một mối đe dọa nghiêm trọng trong giai đoạn từ 1980 đến nay. Tại Châu Á, xung đột Voi - Người không phải là một hiện tượng mới ở các nước thuộc khu vực Châu Á và đây là mối đe doạ chủ chốt tới sự sống còn của các loài vật (FAO, 1996). Nhiều bằng chứng cho thấy sự xung đột gia tăng, tY lệ với diện tích rừng bị mất đi vì nhu cầu cuộc sống của mỗi con người (Trịnh Việt Cường, 1999). Mishra (1971) đã đánh giá thiệt hại kinh tế do voi gây ra ở miền trung Ấn Độ và ghi chú rằng vấn đề này gia tăng đáng kể từ năm 1950, từ chỗ chY là một sự quấy rầy nhỏ đến nay xung đột Voi - Người đã trở thành một vấn đề lớn.
Theo nhận định của Nhóm chuyên gia Voi Châu Á, kết quả nghiên cứu HEC xảy ra vì con người và Voi có chồng chéo lợi ích. Xung đột thường xảy ra tại các khu vực được con người canh tác, bảo vệ (Hart và O'Connell, năm 1998 tại Nelson et al,2003). Trong hầu hết trường hợp xung đột là phá hoại cây trồng và các tài sản vật chất. Nguyên nhân cơ bản của xung đột là mất môi trường sống (Desai, 2002).
Như vậy, qua tổng quan về xung đột Voi - Người ở một số quốc gia trên thế giới đã được nghiên cứu từ đầu thế kỷ 20 và đã rút ra được nhiều kết luận có ý nghĩa. Đó là mô tả được hiện trạng xung đột, đánh giá mức thiệt hại, mức độ xung đột, nguyên nhân xung đột đã được đánh giá từ cả 2 khía cạnh đó là con người và Voi, vai trò trách nhiệm của Chính phủ cũng đã được phân tích về trách nhiệm đền bù thiệt hại cho nông dân khi bị Voi tấn cộng, và để giảm thiểu xung đột một số nước như Ấn Độ đã sử dụng các công cụ công nghệ cao như GIS và viễn thám để giám sát voi, Thái Lan đã đầu tư hàng trăm triệu USD để xây dựng hàng rào điện ngăn chặn Voi. Từ những nhận định trên thấy rằng nghiên cứu nhằm giảm xung đột Voi - Người tại Việt Nam nói chung và Đắk Lắk nói riêng rất cần có sự quan tâm của các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương 5 0 0 Tieu luan và những chính sách đi kèm, cùng với những hỗ trợ tài chính và kỹ thuật thích ứng.1 Tình trạng phân bố của Voi Trước đây, Voi ở Việt Nam có vùng phân bố khá rộng từ vùng biên giới Tây Bắc cho tới các tYnh Tây Nguyên và Miền Đông Nam Bộ (Đỗ Tước, 1991). Trong 20 năm trở lại đây, quần thể Voi của Việt Nam bị suy giảm nghiêm trọng do sự co hẹp diện tích rừng tự nhiên vàxuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, như nạn săn bắn Voi trái pháp luật để lấy ngà, da, lông,… hoặc ngăn chặn sự phá hoại mùa màng của Voi là những lý do chính về sự suy giảm.
Đây là sự suy giảm nghiêm trọng so với số Voi tự nhiên đã được ước tính là từ 1.000 cá thể vào năm 1992, từ 300 đến 600 cá thể vào năm 1997. Tuy nhiên những kết quả điều tra này chY mang tính ước lượng, chưa có công trình nào điều tra chi tiết số lượng cá thể Voi phân bố trên cả nước.Hiện nay các khu vực có Voi sinh sống đã giảm chY còn 8 đến 9 địa điểm. Những khu vực này chủ yếu Voi phân bố là những quần thể nhỏ nằm tại vùng sâu, vùng xa thuộc các tYnh phía Bắc Trung Bộ dọc theo biên giới Lào - Việt Nam. Vùng Tây Nguyên dọc theo biên giới Campuchia và khu vực Miền Đông Nam Bộ (Cao Thị Lý, 2011).
TYnh Đắk Lắk là địa phương có số lượng cá thể Voi hoang dã phân bố lớn nhất tại Việt Nam, đã có nhiều tài liệu đề cập, nhiều báo cáo kết quả điều tra về quần thể Voi ở đây: Dawson(1996), trong chuyên mục “Hãy cứu lấy loài Voi đang có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam” đã đề cập đến việc đàn Voi Đắk Lắk có số lượng khoảng gần 200 con và ngay tại thời điểm đó đã chY ra các nguy cơ có thể làm tuyệt chủng loài Voi. Năm 2000, Đỗ Tước và các cộng sự, được sự tài trợ của tổ chức WWF đã tiến hành điều tra Voi hoang dã tại khu vực huyện Ea Súp.Trong đợt điều tra từ 19 tháng 3 đến 05 tháng 4 năm 2000 đã đưa ra kết luận ở khu vực Ea Súp còn 1 quần thể khoảng từ 25 - 30 cá thể Voi hoang dã phân bố ở phía Đông Nam huyện (trong các khu vực đồi thấp dưới 400m, có 6 0 0 Tieu luan rừng thường xanh, bán thường xanh nửa rụng lá). Cũng theo số liệu điều tra thu thập của nhóm tác giả trên, đến năm 2000 tại huyện Ea Súp có 22 con Voi nhà được bắt từ rừng về thuần hóa, chứng tỏ số lượng Voi rừng những năm trước đó là con số rất đáng kể. Để bảo tồn Voi được lâu dài nhóm tác giả cũng đưa ra đề xuất quy hoạch sinh cảnh cho việc bảo tồn với diện tích từ 1600 - 2000 km 2 bao trùm các huyện Buôn Đôn, Ea Súp và một phần huyện Cư Jút, tYnh Đắk Nông hiện nay.
Năm 2007, Lê Huy Bá trong quá trình phối kết hợp với Sở văn hóa và thông tin tYnh Đắk Lắk để xây dựng đề án bảo tồn đàn Voi nhà, Voi hoang dã và bảo tồn các loại hình văn hóa truyền thống liên quan đến Voi, bằng phương pháp phỏng vấn các thợ săn ở vùng Buôn Đôn - Ea Súp tác giảđã tổng hợp và đưa ra kết quả tại Đắk Lắk khi đó có khoảng 120 cá thể Voi rừng. Nhưng đáng chú ý nhất và gần đây nhất là công trình nghiên cứu của tác giả Bảo Huy và cộng sự (2009) khi lập dự án bảo tồn Voi tYnh Đắk Lắk. Nhóm tác giả đã khảo sát và kiểm định thống kê sinh học để ước lượng tại khu vực Đắk Lắk hiện có khoảng từ 83 - 110 cá thể voi rừng, phân bố ở khu vực rừng khộp VQG Yok Don, huyện Buôn Đôn, Ea Súp và Ea H’Leo. Ở Nghệ An, Voi Châu Á phân bố tại 3 khu rừng đặc dụng gồm VQG Pù Mát, Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Huống và Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt.
Tổng số có 13-16 cá thể. Trong đó, VQG Pù Mát có số lượng Voi lớn nhất và đang có khả năng phát triển.