Chương 1: NHỮNG VAN DE VE THE LOẠI PHIM TÀI LIEU VÀ “ĐIỆN ANH TÁC GIA” 1. Phim tài liệu như là một loại hình nghệ thuật điện ảnh 1. Khai niệm và phân loại phim tai liệu Đã có rất nhiều công trình trên thế giới nghiên cứu về bản chất thê loại cũng như phương pháp làm phim tài liệu. Đơn cử một số công trình được công bố bằng Anh ngữ trong thời gian khoảng hai mươi năm trở lại đây: Trong cuốn The Art of Record: A Critical Introduction to Documentary/ Nghệ thuật ghi âm: Mot nhập môn quan trong về phim tai liệu (1996, Manchester University), John Corner đã đưa ra một cái nhìn tổng quan, sáng rõ về các vấn đề lý luận và các cuộc tranh luận quan trọng xung quanh phim tài liệu, những cuộc thảo luận về sự phát triển của các phong cách và những cách tiếp cận chủ yếu, bao gồm cả kết hợp giữa sự thật và hư cấu (dramadoc) và quay lén (fly-on-the-wall).
Ông cũng xem xét đặc tính kép của tác phâm phim tài liệu: đó vừa như một kết quả điều tra/khám phá khoa học, vừa như một nguồn tham chiếu. Cuốn sách cũng phân tích chi tiết các vi dụ cụ thé về các bộ phim và chương trình truyền hình lớn như Cathy Come Home, Life and Timesof Rosie the Rivetter và When the Dog Bites. John Grierson trong bai “First Principles of Documentary”/ “Những nguyên tắc dau tiên của phim tai liệu” in trong cuốn Imagining reality: the Faber book of documentary | Thực tế bằng hình ảnh: Sách về phim tài liệu của Nhà xuất bản Faber do Kevin Macdonald và Mark Cousins biên soạn (London, 1998) cho rằng phim tải liệu là cách “khám phá bằng nghệ thuật những sự thật bị che giấu” và phim tài liệu không chỉ quan sát và ghi hình những gì đang xảy ra xung quanh, mà thông qua phim tài liệu, bạn có thê trải 15 nghiệm và tập trung vào nhiều vấn đề khác nhau. Vẻ đẹp của phim tài liệu có khả năng thông tin và giáo dục trong bối cảnh có những tham chiếu trực tiếp đời sống hiện thực.
Mặc dù phim tai liệu được coi là một tác phẩm “thô”, làm từ “vật liệu tự nhiên” (John Grierson) nhưng việc làm phim tài liệu luôn đối diện với những thách thức từ thực tiến. Điều đó đã được các tác giả A.Corner của cuốn New challenges for documemtary/Những thách thức mới cho phim tai liệu (Manchester University Press, 2005) trình bày chỉ tiết qua cái nhìn bên trong của bản thân nhà sản xuất và đạo diễn, qua sự tham chiếu đến những van dé đạo đức và thắm mỹ, sự biến đổi của bối cảnh truyền hình cũng như sự “tranh chấp biên giới” thé loại (docudrama). Nói về sự “tranh chấp biên giới” hay là sự giao thoa giữa hư cấu và phi hư cấu, một số nhà nghiên cứu coi “phim tài liệu là một ngành sản xuất phim với việc đi vào thực tế, chụp ảnh, định hình, chỉnh sửa nó, đưa ra một khuôn mẫu cho sự quan sát trực tiếp” (J.Staiger, Docudrama) hay “phim tài liệu là sự tái định hình lịch sử thế giới ít nhiều mang tính xảo thuật” (M.Renov, Theorizing documentary, 1993),. Lich sử điện ảnh đã chỉ ra rằng phim tai liệu là nhóm thé loại ra đời sớm nhất, căn cứ vào cách thức làm phim.
Đó là việc, vào buổi bình minh của điện ảnh, khi mọi quan niệm về thể loại và các chức danh nghiệp vụ của bộ môn nghệ thuật này còn chưa ra đời, để làm ra một bộ phim (thường chỉ dài khoảng vài ba phút chiếu) người ta cứ hồn nhiên vác máy đi bất cứ đâu, ghi hình bắt kì cái gì họ muốn (toàn là những người thật, việc thật) dẫn đến sự ra đời của nhóm thể loại đầu tiêntrong điện ảnh: phim thời sự-tài liệu. Còn các nhóm thể loại khác, như phim khoa học, phim hoạt hình va phim truyện, ra đời sau.Nhưng có lẽ không phải ngẫu nhiên mà gần như tất cả các đạo diễn phim truyện đều ít nhiều thử sức trong lĩnh vực phim tài liệu, vì nhóm thé loại này bao giờ cũng có một sức hâp dân riêng.Đó là chưa kê đên những người 16 suốt đời gan bó với phim tài liệu, thậm chí tạo nên cả một khuynh hướng hay trường phái, như R.Flaherty (Mỹ), Dziga Vertov (Nga Xô viết) từ đầu thế kỉ XX. Muộn hon, có thê kế đến R. Ở Việt Nam, là những tên tuéi như Khương Mễ, Mai Lộc, Nguyễn Tiến Lợi (thời kì đầu), Bùi Đình Hạc, Nguyễn Ngọc Quỳnh, Trần Văn Thủy, Đào Trọng Khánh, Lê Mạnh Thích và nhiều gương mặt khác của hôm nay.
Với mảng phim tài liệu truyền hình, không thể quên được Trịnh Văn Thanh, Bùi Ngọc Hà, Lê Thuấn, Tran Minh Dai, Vi Hòa. Trong số các thé loại phim tai liệu, thé loại phim phổ biến nhất là phim tài liệu thời sự (newsreel), được làm ra bằng cách xâu chuỗi các hình ảnh từ các nguồn tư liệu có trước đó. Phim tải liệuthời sự có đặc trưng ghi lại một sự kiện đang diễn ra với sự sắp xếp tối thiểu của nhà làm phim, loại phim này phát triển trong thời kì công nghệ lên ngôi khi may móc được cải tiến một cách hiện đại. Thể loại tiếp theo là phim tải liệu về tự nhiên (discovery), loại phim thường dùng ống kính phóng đại để khám phá thế giới của các loài côn trùng, quay lại quá trình hình thành và phát triển của các loại động thực vật.
Ngoài ra, còn có những bộ phim về khoa học khám phá các hiện tượng tự nhiên của con người. Những phim tài liệu khắc họa chân dung, miêu tả, quan sát và ghi lại hình ảnh của những người nỗi tiếng, những người đặc biệt hoặc đặc trưng cho một tầng lớp xã hội nào đó. Theo một số tài liệu nghiên cứu có viết, phim tai liệu được nhắc đến với nhiều tiểu thể loại khác nhau như:Phim tài liệu chiến tranh, với dé tài là các cuộc chiến, ghi lại cái gọi là chiến tranh, sự đấu đá và nỗi thống khổ của con người; Phim tải liệu khoa học với chủ đề về cuộc sông, thiên nhiên và con người, các nhà làm phim tìm tòi khám phá mọi thứ xung quanh; Phim tài liệu lịch sửmang mục đích giáo dục và làm tư liệu với việc ghi hình lại những 17 khoảnh khắc đáng nhớ đã xảy ra theo dòng lịch sử của con người; Phim tài liệu theo quốc gia: đây là thể loại có sự liên kết với bên ngoài, hình ảnh đặc trưng của con người và đất nước với mục đích chính trị; Phim tài liệu tuyên truyền, mang mục đích xã hội nhằm giáo dục nhận thức của con người, chia sẻ thông tin đến cộng đồng. Theo nhà phê bình phim Bill Nichols, ông xác định phim tai liệu có năm loại: mô tả, quan sát, phản thân, tương tac va dàn dựng [23].Nhung cũng có một số tài liệu nghiên cứu phân chia phim tài liệu thành sáu thé loại cơ bản: Phim tài liệu thi ca (poetic documentary) mục tiêu tạo ra một cảm nhận chứ không chi là phan ánh sự thật Phim tài liệu mô ta (expository documentary)nhằm mục đích thông báo và hoặc thuyết phục; Phim tài liệu quan sat (observational documentary)cũng giống như tên gọi của nó - chúng nhằm mục đích đơn giản là quan sát thế giới xung quanh.
Nó có nguồn gốc từ những năm 1960 với những tiến bộ trong thiết bị làm phim di động, phong cach cinéma vériié it tập trung hơn dòng phim mô tả; Phim tài liệu có sự tham gia (participatory documentary) mang các yếu tố của phim tải liệu quan sát và mô tả, có cả nhà làm phim trong câu chuyện có thể từ những điều rất nhỏ như tiếng nói của nhà làm phim sau máy quay; Phim tài liệu phản thân (reflexive documentary)tuong tự như phim tài liệu tham gia, trong đó thường bao gồm nhà làm phim trong bộ phim - tuy nhiên nó chỉ tập trung vào bản thân bộ phim và hành động làm nên bộ phim; Phim tài liệu trình diễn (performative documentary)là một sự kết hợp phong cách thực nghiệm, thường kết nối cá nhân hoặc trải nghiệm sau đó đối chiếu với những van đề chính tri, xã hội.Điều này đôi khi được gọi là “phong cách Michael Moore”, thường dùng các câu chuyện cá nhân dé tạo dựng chân lý xã hội (mà không cần phải tranh luận tính hợp lệ của trải nghiệm). Ngoài ra, còn cócách phân các loại phim tài liệu theo hình thức-chức năng như phim tài liệu có thực (true documentary), 18 phim khoa giáo (educational films) và phim giả tai liệu (pseudo - documentary),. hoặc theo cách làm phim: phim tai liệu độc lập (independent documentary) là loại phim không gắn với xưởng phim lớn hoặc hãng phim nảo, người làm phim sẽ phải chủ động trong mọi vấn đề; phim tài liệu truyền hình (TV documentary) trái ngược với phim độc lập, chịu sự kiểm soát chặt chẽ về cả nội dung và hình thức, đảm bảo tính chính luận và tính thời sự của báo chí nhằm phù hợp với đặc trưng của loại hình truyền thông đại chúng. Có thê thấy trong mỗi thê loại đều có những cách biến thể khác nhau tạo nên những phong cách độc đáo cho mỗi bộ phim và những người làm phim.Nó tùy thuộc vào mục tiêu cua nhà làm phim tài liệu trong việc tạo ra câu chuyện (hoặc phi cốt truyện) cho đối tượng khán giả.
Điện ảnh là sự giao thoa giữa nhiều thể loại, là sự kết hợp hài hòa giữa nhiều yếu tố dé có thé làm nên một bộ phim.Ranh giới giữa phim tài liệu và những loại phim khác như phim tài liệu và phim truyện, phim tài liệu và phóng sự đôi khi là rất mong manh, .Cho đến tận bây giờ, người ta còn tranh luận phim tai liệu có phải là tác phâm nghệ thuật hay là tác phẩm báo chí; cơ chế sự giao thoa giữa nghệ thuật (điện ảnh) va báo chí (truyền hình) trong phim tải liệu. Nói tóm lại, phim tài liệu là một thé loại phim tập trung khai thác moi khía cạnh trong đời sống ở góc độ chân thực va tự nhiên nhất. Dù vẫn còn những quan niệm khác nhau, người ta vẫn không thé phủ nhận rằng phim tai liệu, cũng giống như các thê loại tác phẩm báo chí truyền hình đều có chung một gốc: đó là tất cả đều phải xuất phát từ những hình ảnh có thật đã và đang ton tại trong cuộc sống. Phim tài liệu được phân loại theo nhiều cách khác nhau: theo đặc trưng, phong cách hoặc theo nội dung, chủ đề.
Có những bộ phim theo chủ dé con người, thiên nhiên, môi trường, các loài động vật. mỗi người làm phim sẽ có những cách khác nhau đề thực hiện ý tưởng đó của 19 mình. Rốt cuộc khuynh hướng chung của thể loại này vẫn là việc đề cao tính chân thực bên cạnh tính nghệ thuật. Luận văn sẽ tập trung vào thể loại phim tài liệu quan sát theo hệ thống phân loại của nhà phê bình phim Bill Nichols.