Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ ĐỐI VỚI TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC 1. Những vấn đề lý luận và pháp luật về thực hành quyền công tố đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác 1. Khái niệm Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác.
- Khái niệm về thực hành quyền công tố: Hiến pháp năm 1980 là văn bản pháp lý đầu tiên về mặt hiến định của Nhà nước ta đưa thuật ngữ “Thực hành quyền công tố” được đề cập tại Điều 138 quy định chức năng của Viện kiểm sát nhân dân. Tại Điều 1 và Điều 3 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1980 cũng đề cập đến thuật ngữ “Thực hành quyền công tố”. Quy định này cũng được thể hiện trong Hiến pháp năm 1992 và năm 2013; Điều 20 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; khoản 1 Điều 2 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014. Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, luật chuyên ngành thì các văn bản tố tụng khác cũng có quy định.
Tuy nhiên, hiện nay chưa có văn bản nào quy định, giải thích rõ “Thực hành quyền công tố” là gì?. Chính vì thế việc nhận thức, thực hiện công tác Thực hành quyền công tố chưa thống nhất, có lúc, có nơi chưa đầy đủ, chính xác. Để nhận thức, thực hiện được thống nhất, đầy đủ, chính xác cần phải làm rõ nội hàm của “Quyền công tố” và “Thực hành”. 9 Luan van Công tố là từ ghép được ghép hai từ “công” và “tố”.
"tố" có nghĩa là "nói công khai cho mọi người biết việc làm sai trái, phạm pháp của người phạm tội khác", còn "công" có nghĩa là "thuộc về Nhà nước ". "Công tố" là "điều tra, truy tố, buộc tội kẻ phạm tội và trình bày quan điểm trước tòa án". Như vậy "công tố" theo từ điển Tiếng Việt là khái niệm bao gồm: điều tra, truy tố, buộc tội kẻ phạm pháp, trình bày quan điểm trước tòa án [42,tr 200, 204, 973]. Hiện nay, phạm vi và chủ thể thực hiện quyền công tố vẫn còn nhiều ý kiến, nổi bật là các quan điểm sau: Quan điểm thứ nhất: Quyền công tố không phải là chức năng độc lập của Viện kiểm sát mà chỉ là hình thức để thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật [7, tr.
Quan điểm này nhầm lẫn giữa hai chức năng của Viện kiểm sát. Quan điểm thứ hai: Quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự người phạm tội [42, tr. Quan điểm này cho rằng chủ thể Quyền công tố được nhà nước giao cho cả Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra, Tòa án, Cơ quan thi hành án hình sự. Gần đây, những công trình nghiên cứu về quyền công tố, quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 ngày một rõ ràng hơn về quyền công tố.
Tác giả đồng quan điểm với quan điểm của Tiến sĩ Lê Hữu Thể: Quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Quyền công tố được thực hiện bởi một cơ quan nhất định (ở nước ta là Viện kiểm sát), có trách nhiệm đảm bảo việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm và người phạm tội trên cơ sở đó quyết định việc truy tố bị can ra trước Tòa án để xét xử bằng bản cáo trạng và thực hiện việc buộc tội tại phiên tòa. 10 Luan van Vì vậy quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực tố tụng hình sự với đối tượng tội phạm và người phạm tội.[29, tr40] Pháp luật hình sự quy định, Viện kiểm sát là cơ quan được giao Thực hành quyền công tố và chỉ có Viện kiểm sát có quyền phát động quyền công tố mà không chịu sự can thiệp của cơ quan nhà nước nào. Theo từ điển tiếng Việt “thực hành” nghĩa là “làm để áp dụng lý thuyết vào thực tiễn”, “thực hành” đồng nghĩa với “thực hiện” [31].
Như vậy để thực hiện đầy đủ quyền công tố thì Viện kiểm sát phải sử dụng các quyền năng pháp lý thuộc quyền công tố trong toàn bộ quá trình tiến hành tố tụng của vụ án, nhằm mục đích phát hiện kịp thời hình vi phạm tội, xử lý nghiêm minh người phạm tội, không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội. Từ những vấn đề vừa phân tích trên tác giả nêu lên khái niệm: Thực hành quyền công tố là chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân được pháp luật quy định để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với chủ thể thực hiện hành vi phạm tội và Thực hành quyền công tố bắt đầu từ khi thụ lý giải quyết nguồn tin về tội phạm và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự. - Khái niệm giai đoạn điều tra vụ án hình sự Điều 143 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định: “Chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Dấu hiệu tội phạm được xác định trên cơ sở căn cứ Tố giác, tin báo tội phạm của cá nhân, cơ quan, tổ chức, phương tiện thông tin đại chúng, kiến nghị khởi tố hoặc cơ quan tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm hoặc người phạm tội tự thú.
Điều 8 Bộ luật hình sự 2015 quy định về tội phạm: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách 11 Luan van cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự. Như vậy dấu hiệu tội phạm là một sự việc có các dấu hiệu quy định tại Điều 8 Bộ luật hình sự, pháp luật hiện hành không quy định thế nào gọi là vụ án hình sự, nhưng từ quy định trên chúng ta có thể hiểu vụ án hình sự là vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật Hình sự được phát hiện và cơ quan có thẩm quyền (Cơ quan điều tra, Cơ quan được được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Toà án nhân dân) khởi tố vụ án để giải quyết theo quy định pháp luật. Điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn quan trọng trong việc chứng minh tội phạm, được nối tiếp giai đoạn giải quyết tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố, trong đó nhiệm vụ của cơ quan điều tra, cơ quan được giao một số nhiệm vụ điều tra căn cứ các quy định của pháp luật để tiến hành các biện pháp nghiệp vụ cần thiết để thu thập chứng cứ, nghiên cứu đánh giá các tình tiết của vụ án, với mục đích nhanh chóng xác định tội phạm và người phạm tội để truy cứu trách nhiệm hình sự và xem xét bảo đảm việc bồi thường thiệt hại do tội phạm gây ra. Giai đoạn điều tra là một giai đoạn độc lập có chức năng thực hiện các nhiệm vụ cụ thể, áp dụng các biện pháp cần thiết theo quy định của pháp luật để chứng minh tội phạm và người phạm tội, xác định nguyên nhân, điều kiện phạm tội.
Giai đoạn điều tra vụ án hình sự bắt đầu khi cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết định khởi tố vụ án và kết thúc khi cơ quan điều tra, cơ quan được giao một số nhiệm vụ điều tra ra quyết định: Đình chỉ điều tra hoặc ra 12 Luan van Kết luận điều tra và chuyển toàn bộ tài liệu liên quan đến vụ án cho Viện kiểm sát và đề nghị truy tố bị can trước Tòa án. Mục đích của hoạt động điều tra là chứng minh sự thật khách quan của vụ án: Có hành vi phạm tội hay không phạm tội?; thời gian, địa điểm và các tình tiết khác của hành vi đó; Người thực hiện hành vi phạm tội là ai?; có lỗi hay không có lỗi?, lỗi như thế nào? Lỗi cố ý hay vô ý?; Người thực hiện hành vi phạm tội có năng lực trách nhiệm hình sự không?; mục đích và động cơ phạm tội là gì?; Có bao nhiêu tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người có hành vi phạm tội?; Xác minh về nhân thân của người phạm tội ?; Tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội gây ra như thế nào?; Nguyên nhân, điều kiện dẫn đến phạm tội; Những tình tiết khác liên quan đến việc loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt." Từ những lý luận trên có thể đưa ra khái niệm về điều tra vụ án hình sự: Điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn của tố tụng hình sự của cơ quan điều tra có thẩm quyền điều tra áp dụng mọi biện pháp do luật định để xác định tội phạm, người thực hiện hành vi phạm tội và các tình tiết khác làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án dưới sự kiểm sát của Viện kiểm sát. - Khái niệm Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra. Thực hành quyền công tố luôn gắn liền với các hoạt điều tra, được thực hiện từ khi phạm tội sẩy ra, trong suốt quá trình điều tra cho đến khi kết thúc việc buộc tội.
Do đó, Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra được thực hiện từ khi tội phạm xảy ra và kết thúc khi có kết luận điều tra truy tố hoặc đình chỉ vụ án.