Tổng quan luận án

Tình hình phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế tại Việt Nam đã thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, gia tăng đầu tư cơ sở hạ tầng và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Tuy nhiên, mặt trái của sự phát triển kinh tế - xã hội cũng làm phát sinh các hiện tượng xã hội tiêu cực và tội phạm, trong đó tội tham ô tài sản diễn biến phức tạp. Tâm lý hưởng thụ, muốn làm giàu nhanh chóng cùng tư tưởng lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi đã xuất hiện ở một bộ phận cán bộ, công chức. Bên cạnh đó, sự buông lỏng trong quản lý kinh tế và những hạn chế, bất cập trong hệ thống văn bản pháp luật là nguyên nhân làm gia tăng loại tội phạm này. Tội tham ô tài sản diễn ra trên phạm vi toàn quốc và ở nhiều lĩnh vực, đặc biệt trong quản lý, sử dụng tài sản công, đầu tư xây dựng cơ bản, tài chính, ngân hàng, quản lý đất đai và tài nguyên. Nhiều đối tượng phạm tội giữ chức vụ cao trong các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế nhà nước. Hành vi phạm tội xâm hại cùng lúc nhiều khách thể, gây thiệt hại tài sản cho nhà nước và làm giảm sút lòng tin của nhân dân.

Theo số liệu thống kê xét xử hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân tối cao giai đoạn 2010–2019, Tòa án các cấp đã xét xử sơ thẩm 2.485 vụ án với 4.635 bị cáo về tội tham ô tài sản, chiếm 59,1% về số vụ và 56,8% về số bị cáo trong tổng số 4.203 vụ án và 8.156 bị cáo thuộc nhóm tội phạm về tham nhũng được đưa ra xét xử sơ thẩm. Mặc dù công tác phòng ngừa đã được chú trọng, song hiệu quả thực tế chưa cao, nhiều biện pháp chưa được đổi mới kịp thời, các vụ án có hậu quả đặc biệt nghiêm trọng vẫn diễn ra. Đồng thời, việc nghiên cứu có hệ thống từ góc độ tội phạm học về thực trạng, diễn biến, nguyên nhân và biện pháp phòng ngừa chuyên sâu đối với tội tham ô tài sản ở Việt Nam vẫn còn những khoảng trống nhất định. Do đó, việc nghiên cứu đề tài "Phòng ngừa tội tham ô tài sản ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay" là một yêu cầu cấp thiết về lý luận và thực tiễn.

Mục đích nghiên cứu của luận án là đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội tham ô tài sản ở Việt Nam trong thời gian tới. Để thực hiện mục đích này, tác giả xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Đánh giá tình hình của tội tham ô tài sản ở Việt Nam giai đoạn 2010–2019;
  2. Phân tích, giải thích nguyên nhân của tội tham ô tài sản ở Việt Nam giai đoạn 2010–2019;
  3. Dự báo tình hình tội tham ô tài sản ở Việt Nam trong thời gian tới và đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội tham ô tài sản ở Việt Nam trong thời gian tới.

Luận án đặt ra 4 câu hỏi nghiên cứu:

  1. Thực trạng về mức độ, thực trạng về tính chất của tội tham ô tài sản ở Việt Nam giai đoạn 2010–2019 như thế nào?
  2. Diễn biến của tội tham ô tài sản ở Việt Nam giai đoạn 2010–2019 như thế nào?
  3. Những yếu tố nào làm phát sinh, gia tăng tội tham ô tài sản ở Việt Nam giai đoạn 2010–2019; cơ chế tác động của những yếu tố đó?
  4. Các biện pháp cần được áp dụng để nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội tham ô tài sản ở Việt Nam trong thời gian tới?

Giả thuyết nghiên cứu của luận án xác định: Tội tham ô tài sản là loại tội phạm ngày càng gia tăng về số lượng và tính chất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng về hậu quả; xảy ra ở nhiều ngành, lĩnh vực, nhất là các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế nhà nước; số vụ án đồng phạm, số tiền chiếm đoạt đặc biệt lớn ngày càng phổ biến; thủ đoạn phạm tội tinh vi; hành vi phạm tội diễn ra trong thời gian dài mới bị phát hiện. Việc xác định các nhóm yếu tố tiêu cực về quản lý nhà nước, công tác cán bộ, tuyên truyền giáo dục, phát hiện xử lý và đặc điểm tâm lý người phạm tội sẽ cung cấp cơ sở để thiết lập các biện pháp phòng ngừa tương ứng nhằm hạn chế hoặc loại trừ nguyên nhân phát sinh tội phạm.

  • Đối tượng nghiên cứu: Tình hình tội tham ô tài sản ở Việt Nam; Nguyên nhân của tội tham ô tài sản ở Việt Nam; Các biện pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội tham ô tài sản ở Việt Nam.
  • Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu dưới góc độ tội phạm học đối với tội tham ô tài sản tại Việt Nam trong khoảng thời gian 10 năm, từ năm 2010 đến năm 2019.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước và quốc tế được tác giả phân chia theo các nhóm nội dung cụ thể:

Nhóm nghiên cứu về cơ sở lý luận phòng ngừa tội tham ô tài sản:

  • Nguyễn Quốc Hiệp (2013), sách chuyên khảo Thực thi Công ước Liên hợp quốc về phòng chống tham nhũng tại Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia: Phân tích vai trò của Công ước quốc tế và các yếu tố bảo đảm thực thi tại Việt Nam về phương diện chính trị, pháp lý, sự phối hợp giữa các cơ quan.
  • Nguyễn Xuân Trường (2012), sách chuyên khảo Phòng chống tội phạm tham nhũng có yếu tố nước ngoài trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, NXB Chính trị quốc gia: Phân tích các dạng hành vi, thủ đoạn câu kết, móc nối giữa người có chức vụ với cá nhân nước ngoài để chiếm đoạt tài sản.
  • Nguyễn Quốc Sửu (2013), sách chuyên khảo Phòng chống tham nhũng trong hoạt động công vụ ở Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia: Phân tích các đặc thù của hành vi tham ô trong hoạt động công vụ, sự tha hóa quyền lực và thiếu minh bạch thông tin.
  • Nguyễn Thế Huệ (chủ nhiệm, 2012), đề tài khoa học cấp bộ của Thanh tra Chính phủ Vai trò của Hội người cao tuổi và Hội cựu chiến binh tham gia phòng chống tham nhũng ở cơ sở: Phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về phát huy sức mạnh xã hội trong phòng ngừa tham nhũng.
  • Ngô Mạnh Hùng (chủ nhiệm, 2013), đề tài khoa học cấp bộ của Thanh tra Chính phủ Một số vấn đề về quản lý nhà nước trong phòng chống tham nhũng: Làm rõ mục tiêu, trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước trong phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng.
  • Phan Đình Trạc (2017), bài viết Đấu tranh phòng chống tham nhũng theo tinh thần Nghị quyết Đại hội 12 của Đảng, Tạp chí Nội chính số 41: Nhấn mạnh sự kết hợp chặt chẽ giữa tích cực phòng ngừa và kiên quyết xử lý, hoàn thiện thể chế kinh tế - xã hội.

Nhóm nghiên cứu về tình hình và nguyên nhân tội tham ô tài sản:

  • Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2015), Đề án Cơ chế, chính sách đấu tranh xử lý hiệu quả các vụ án tham nhũng, đặc biệt là các tội tham ô tài sản, nhận hối lộ: Đánh giá giai đoạn 2005 đến tháng 6/2014 với số liệu khởi tố 1.800 vụ/3.518 bị can tội tham ô tài sản, truy tố 1.661 vụ/3.560 bị can, xét xử sơ thẩm 1.518 vụ/3.002 bị cáo; làm rõ các hạn chế trong quản lý, chỉ đạo, phát hiện và xử lý.
  • Nguyễn Hiểu Vinh (chủ biên, 2013), sách chuyên khảo Hoạt động của thanh tra chính phủ trong phòng ngừa tội phạm về tham nhũng, NXB Công an nhân dân: Đánh giá số liệu giai đoạn 2007–2011, khẳng định tội tham ô tài sản chiếm 52,64% số vụ và 50,23% số bị can trong nhóm tội phạm tham nhũng; phân tích nguyên nhân từ kẽ hở pháp luật, sự chuyển đổi cơ chế và đạo đức cán bộ.
  • Nguyễn Hải Phong (2008), luận án tiến sĩ Hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong đấu tranh phòng chống tội phạm về tham nhũng ở Việt Nam: Nêu số liệu 2001–2006 có 2.890 vụ/5.910 bị can tham nhũng bị khởi tố, trong đó tham ô tài sản chiếm 65% số vụ và 63% số bị can; phân tích nguyên nhân từ cơ chế xin - cho và tổ chức bộ máy cồng kềnh.
  • Nguyễn Xuân Trường (chủ biên, 2016), sách chuyên khảo Phòng chống tham nhũng trong các tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam hiện nay, NXB Chính trị quốc gia: Đưa ra số liệu 2006–2015 với 2.905 vụ/6.195 bị can bị khởi tố; phân tích thủ đoạn nâng giá hợp đồng, lập công ty sân sau, buông lỏng quản lý vốn và vai trò kiểm tra của tổ chức Đảng.
  • Nguyễn Văn Thanh (chủ biên, 2004), sách chuyên khảo Một số vấn đề cơ bản về phòng ngừa và chống tham nhũng, NXB Tư pháp: Phân tích nguyên nhân về cải cách hành chính chậm, công tác cán bộ yếu kém và kiểm soát tài sản, thu nhập còn hình thức.
  • Nguyễn Bá Thanh và Phan Đình Trạc (chủ biên, 2016), sách chuyên khảo Tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn 30 năm đổi mới về phòng chống tham nhũng, lãng phí (1986-2016), NXB Chính trị quốc gia: Phân tích nguyên nhân thuộc trách nhiệm người đứng đầu, bất cập trong xây dựng chính sách kinh tế và đề xuất cơ chế kiểm soát nguy cơ tham nhũng từ khâu hoạch định.
  • Nguyễn Minh Tuấn (chủ nhiệm, 2013), đề tài cấp bộ Phòng chống tham nhũng từ việc hoạch định chính sách khoáng sản, Viện Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh: Nêu giải pháp công khai, minh bạch và hoàn thiện quy trình ban hành chính sách.
  • Văn Tiến Mai (chủ nhiệm, 2012), đề tài cấp bộ Nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về thanh tra, khiếu nại, tố cáo và phòng chống tham nhũng của Thanh tra Chính phủ: Đề xuất đổi mới phương thức tuyên truyền và phân loại đối tượng giáo dục pháp luật.

Nhóm công trình nghiên cứu nước ngoài:

  • J.H. White (1994), sách Anti-Embezzlement Methods for Small Businesses, Publishing Press: Xác định nguyên nhân tham ô do quyền quản lý tài sản tập trung vào một số cá nhân; đề xuất phân chia nhỏ quyền hạn và kiểm soát định kỳ.
  • O.J. Prom (1989), sách Preventing Embezzlement and Misuse of Church Funds, Wiley Publisher: Đề cập nguyên nhân tham ô do thiếu kiểm soát ngân quỹ thường xuyên và đề xuất quy trình kiểm soát thu chi.
  • Thomas P. DiNapoli (2010), sách Prevent fraud and abuse of public funds, Rocky Mount Publisher: Phân tích các thủ đoạn gian dối trong mua sắm tài sản công và đầu tư xây dựng; nhấn mạnh vai trò của cơ quan cảnh sát trong phát hiện, xử lý.
  • C. Moran (1973), sách Preventing embezzlement, US Small Business Administration: Chỉ ra việc tập trung quản lý tài chính vào một vài người trong khi kiểm soát bị xem nhẹ.
  • Yao, W. NG (2005), bài viết Embezzlement and its prevention and examination, Tạp chí Khoa học và Công nghệ An Huy, số 4: Phân tích hạn chế trong công tác kiểm tra, giám sát.
  • Lowis Donald (2012), bài viết Employee Embezzlement and Fraud; Detection, Prevention, and Prosecution, Hội nghị thường niên lần thứ 2: Phân tích hành vi gian lận của nhà quản lý và nhân viên trong sử dụng vốn.
  • Schafer, J. (1996), bài viết Focus on what you can control: embezzlement detection vs prevention, Tạp chí Hiệp hội Nha khoa Michigan: Khẳng định kiểm soát quản lý và sử dụng ngân quỹ mang lại hiệu quả phòng ngừa cao hơn so với chỉ xử lý sau khi phát hiện.
  • Ogg Gerald W., bài viết Preventing Embezzlement, Tạp chí Luật: Khuyến nghị hạn chế tập trung quyền quản lý tài sản vào số ít cá nhân để ngăn ngừa phát sinh lòng tham.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận tham ô tài sản trong nhóm tội phạm về tham nhũng nói chung, hoặc nghiên cứu trong các khoảng thời gian trước năm 2016, hoặc chỉ giới hạn ở một ngành, lĩnh vực cụ thể (như công vụ, doanh nghiệp nhà nước, khoáng sản) hay từ góc độ hoạt động của một cơ quan riêng lẻ (Thanh tra, Viện kiểm sát). Luận án giải quyết khoảng trống này bằng việc khảo sát toàn diện tình hình tội tham ô tài sản ở Việt Nam dưới góc độ tội phạm học trong giai đoạn 10 năm (2010–2019), phân tích mẫu số liệu thực chứng từ 585 bản án sơ thẩm tại 45 địa phương, từ đó làm rõ thực trạng, diễn biến, hệ thống nguyên nhân đồng bộ và đề xuất hệ thống giải pháp phòng ngừa chuyên sâu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

  • Cơ sở lý luận: Luận án dựa trên lý luận tội phạm học, bao gồm: lý luận về tình hình tội phạm (mức độ, tính chất, cơ cấu, diễn biến, chỉ số tội phạm, tội phạm ẩn và tội phạm rõ); lý luận về nguyên nhân và điều kiện làm phát sinh tội phạm; lý luận về dự báo tình hình tội phạm; lý luận về hệ thống các biện pháp phòng ngừa tội phạm. Phương pháp luận dựa trên chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về phòng, chống tội phạm tham nhũng.

  • Phương pháp tiếp cận: Kết hợp tiếp cận định lượng, tiếp cận tổng thể và tiếp cận bộ phận nhằm phân tích các thông số về số vụ, số người phạm tội, cơ cấu tội phạm và diễn biến của tội phạm qua các năm.

  • Phương pháp chọn mẫu: Sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản để thu thập và phân tích dữ liệu từ 585 bản án hình sự sơ thẩm về tội tham ô tài sản trong giai đoạn 2010–2019 tại 45 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Đà Nẵng, Hải Phòng, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Hải Dương, Ninh Bình, Hà Nam, Lạng Sơn, Bắc Ninh, Bắc Giang, Phú Thọ, Hà Giang, Yên Bái, Bắc Kạn, Thanh Hóa, Quảng Trị, Quảng Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Hòa Bình, Nam Định, Lâm Đồng, Bình Thuận, Phú Yên, Bình Định, Khánh Hòa, Quảng Ngãi, Quảng Nam, Đồng Nai, Ninh Thuận, Tây Ninh, Bình Dương, Hưng Yên, Bà Rịa - Vũng Tàu, Long An, Bến Tre, Bạc Liêu, Cà Mau, Tiền Giang, Đồng Tháp, Kiên Giang, An Giang).

  • Phương pháp thu thập dữ liệu:

    • Phương pháp phân tích thứ cấp dữ liệu: Khai thác số liệu thống kê gốc về khởi tố, truy tố, xét xử sơ thẩm của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao; kết hợp số liệu dân số để tính toán chỉ số tội phạm.
    • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi và nghiên cứu hồ sơ bản án.
  • Phương pháp xử lý dữ liệu: Phương pháp thống kê mô tả nhằm tính toán các đại lượng số tuyệt đối, số tương đối, số trung bình, thể hiện qua hệ thống 25 bảng số liệu và 29 biểu đồ.

  • Phương pháp kiểm chứng giả thuyết: Chứng minh trực tiếp giả thuyết nghiên cứu dựa trên các dữ liệu thực chứng thu thập được.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tình hình tội tham ô tài sản ở Việt Nam giai đoạn 2010–2019

Chương 1 làm rõ các vấn đề lý luận chung về tình hình tội phạm, đánh giá thực trạng và diễn biến của tội tham ô tài sản về mức độ và tính chất:

  • Thực trạng về mức độ: Trong 10 năm (2010–2019), Tòa án nhân dân các cấp đã xét xử sơ thẩm 2.485 vụ với 4.635 bị cáo về tội tham ô tài sản. Tội tham ô tài sản chiếm tỷ lệ chi phối trong nhóm tội phạm tham nhũng (59,1% số vụ và 56,8% số bị cáo).
  • Thực trạng về tính chất và cơ cấu tội phạm (thông qua khảo sát 585 bản án):
    • Thủ đoạn phạm tội: Thủ đoạn gian dối rất phổ biến, thể hiện dưới hai hình thức: gian dối để che đậy hành vi chiếm đoạt hoặc gian dối nhằm tạo điều kiện chiếm đoạt tài sản được giao quản lý (như lập khống hồ sơ, chứng từ, ký khống hợp đồng, sửa chữa sổ sách kế toán, nâng khống khối lượng thi công).
    • Loại tài sản và giá trị tài sản: Tài sản bị chiếm đoạt phổ biến nhất là tiền; các vụ án có giá trị tài sản bị chiếm đoạt ở mức độ đặc biệt lớn ngày càng chiếm tỷ trọng đáng kể.
    • Lĩnh vực hoạt động: Tội phạm xảy ra nhiều trong quản lý và sử dụng quỹ, ngân sách nhà nước, sản xuất kinh doanh tại các doanh nghiệp nhà nước, tập đoàn kinh tế, hoạt động ngân hàng - tín dụng, đầu tư xây dựng cơ bản và quản lý đất đai.
    • Đặc điểm nhân thân: Độ tuổi của người phạm tội có xu hướng trẻ hóa; tỷ lệ người phạm tội là nữ giới có xu hướng gia tăng; phần lớn người phạm tội có trình độ học vấn từ trung học chuyên nghiệp, đại học trở lên; người phạm tội bao gồm cả lãnh đạo cấp cao lẫn nhân viên trực tiếp quản lý vật chất (kế toán, thủ quỹ, thủ kho).
  • Diễn biến của tội phạm:
    • Về mức độ: Số vụ và số người phạm tội có biến động tăng giảm đan xen trong giai đoạn đầu và tăng mạnh vào những năm cuối giai đoạn nghiên cứu.
    • Về tính chất: Tội phạm loại đặc biệt nghiêm trọng có xu hướng tăng liên tục; các vụ án thực hiện dưới hình thức đồng phạm chiếm tỷ lệ cao và gia tăng rõ rệt ở nửa sau giai đoạn nghiên cứu; số vụ án xảy ra trong doanh nghiệp có vốn nhà nước, cơ quan địa phương và số vụ có bị cáo mang đặc điểm tái phạm, tái phạm nguy hiểm đều có xu hướng tăng so với năm gốc.
Nhóm chỉ tiêu Dữ liệu thống kê giai đoạn 2010–2019 Tỷ lệ / Đặc điểm chính
Tổng số án xét xử sơ thẩm 2.485 vụ / 4.635 bị cáo Chiếm 59,1% số vụ và 56,8% số bị cáo của toàn bộ nhóm tội phạm tham nhũng (4.203 vụ / 8.156 bị cáo)
Mẫu khảo sát chuyên sâu 585 bản án hình sự sơ thẩm tại 45 tỉnh, thành Khảo sát chi tiết cơ cấu hành vi, hình phạt, nhân thân và thủ đoạn
Hình thức thực hiện Đồng phạm chiếm tỷ lệ lớn Có xu hướng tăng mạnh ở nửa sau giai đoạn nghiên cứu, tính chất có tổ chức rõ nét
Thủ đoạn điển hình Lập khống chứng từ, sổ sách, hợp đồng; nâng khống khối lượng Chiếm đoạt chủ yếu là tiền; giá trị tài sản thiệt hại đặc biệt lớn gia tăng
Địa bàn và lĩnh vực trọng điểm Doanh nghiệp nhà nước, tài chính - ngân hàng, đất đai, xây dựng Diễn ra ở cả cấp trung ương và các cơ quan thuộc thẩm quyền quản lý địa phương

Chương 2: Nguyên nhân của tội tham ô tài sản

Chương 2 phân tích các nhóm nguyên nhân và cơ chế tác động dẫn đến phát sinh, gia tăng tội tham ô tài sản tại Việt Nam trong giai đoạn 2010–2019:

  • Nguyên nhân từ hạn chế trong tổ chức, quản lý nhà nước:
    • Hoạt động sản xuất, kinh doanh trong các doanh nghiệp nhà nước và tập đoàn kinh tế còn lỏng lẻo; tổ chức bộ máy cồng kềnh, nhiều cấp trung gian; cơ chế phân công, phân cấp và trách nhiệm quản lý vốn, tài sản công chưa chặt chẽ.
    • Công tác quản lý mua sắm công và sử dụng ngân sách còn sơ hở, thiếu minh bạch.
    • Quản lý đất đai và tài nguyên có nhiều kẽ hở trong quy trình giao đất, cho thuê đất, định giá đất và chuyển đổi mục đích sử dụng.
    • Lĩnh vực ngân hàng, tín dụng và đầu tư xây dựng cơ bản còn thiếu cơ chế kiểm soát rủi ro độc lập, quy trình thẩm định và giám sát giải ngân chưa nghiêm ngặt.
  • Nguyên nhân từ hạn chế trong công tác cán bộ:
    • Quy trình quy hoạch, tuyển chọn, bổ nhiệm, bố trí và sử dụng cán bộ lãnh đạo, quản lý ở một số nơi chưa chặt chẽ, thiếu tiêu chuẩn khách quan;
    • Công tác đánh giá cán bộ còn mang tính hình thức;
    • Chế độ tiền lương, phụ cấp chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu sinh hoạt thực tế, tạo áp lực kinh tế thúc đẩy hành vi vụ lợi.
  • Nguyên nhân từ hạn chế trong hoạt động tuyên truyền, giáo dục pháp luật:
    • Hình thức tuyên truyền còn đơn điệu, nội dung chưa bám sát thực tiễn hoạt động chuyên môn;
    • Chưa chú trọng giáo dục đạo đức nghề nghiệp, ý thức thượng tôn pháp luật và văn hóa liêm chính cho đội ngũ cán bộ giữ chức vụ, quyền hạn.
  • Nguyên nhân từ hạn chế trong hoạt động phát hiện và xử lý tội phạm:
    • Công tác tự kiểm tra, giám sát nội bộ, thanh tra chuyên ngành và kiểm toán định kỳ còn yếu kém, nhiều sai phạm diễn ra trong thời gian dài mới bị phát hiện;
    • Hoạt động thu thập chứng cứ chứng minh yếu tố tư lợi và hành vi chiếm đoạt gặp khó khăn;
    • Mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan thanh tra, kiểm toán đôi lúc còn thiếu đồng bộ; việc xử lý vi phạm ở một số trường hợp chưa bảo đảm tính răn đe kịp thời.
  • Nguyên nhân từ phía người phạm tội:
    • Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống;
    • Lối sống thực dụng, đề cao giá trị vật chất, tâm lý muốn làm giàu nhanh chóng;
    • Ý thức chấp hành pháp luật kém, cố ý lợi dụng kẽ hở quản lý và vị trí công tác để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản được giao quản lý.

Chương 3: Các biện pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội tham ô tài sản ở Việt Nam trong thời gian tới

Chương 3 đánh giá kết quả thực tế của hoạt động phòng ngừa thời gian qua, xây dựng dự báo tình hình và đề xuất 4 nhóm giải pháp phòng ngừa đồng bộ:

  • Đánh giá hoạt động phòng ngừa và dự báo tình hình:
    • Công tác phòng ngừa đã đạt được những kết quả ban đầu trong việc hoàn thiện thể chế và xử lý các vụ án lớn, nhưng vẫn bộc lộ hạn chế do thiếu đồng bộ và chậm đổi mới phương thức kiểm soát.
    • Dự báo trong thời gian tới, tội tham ô tài sản tiếp tục diễn biến phức tạp, thủ đoạn phạm tội có xu hướng ngày càng tinh vi, sử dụng công nghệ cao và phương thức phi truyền thống, tập trung vào các lĩnh vực kinh tế trọng điểm và tài sản công có giá trị lớn.
  • Hệ thống các biện pháp phòng ngừa đề xuất:
    • Nhóm biện pháp về tổ chức, quản lý nhà nước: Đổi mới quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp có vốn nhà nước; siết chặt quy trình mua sắm công, quản lý quỹ và ngân sách; hoàn thiện quy chế quản lý đất đai; kiểm soát chặt chẽ hoạt động tín dụng, ngân hàng và các dự án đầu tư xây dựng cơ bản; xóa bỏ cơ chế xin - cho.
    • Nhóm biện pháp về công tác cán bộ: Hoàn thiện quy trình lựa chọn, quy hoạch, đề bạt, bổ nhiệm, luân chuyển và đánh giá cán bộ quản lý tài sản công; tăng cường kiểm soát quyền lực của người đứng đầu; thực hiện công khai, minh bạch việc kê khai và kiểm soát biến động tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức; thực hiện cải cách chế độ tiền lương và chính sách đãi ngộ.
    • Nhóm biện pháp về tuyên truyền, giáo dục pháp luật: Đa dạng hóa hình thức tuyên truyền; phân loại nhóm đối tượng để thiết kế nội dung phù hợp; kết hợp giáo dục pháp luật với giáo dục phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống và văn hóa công vụ cho đội ngũ lãnh đạo, quản lý.
    • Nhóm biện pháp về hoạt động phát hiện và xử lý: Nâng cao năng lực chuyên môn và trách nhiệm của các cơ quan thanh tra, kiểm tra, kiểm toán; tăng cường hoạt động nghiệp vụ của cơ quan điều tra và Viện kiểm sát; hoàn thiện cơ chế tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm; nâng cao hiệu quả công tác giám định tư pháp phục vụ chứng minh thiệt hại và thu hồi tài sản tham ô.

Kết quả và những đóng góp mới

  • Đóng góp về lý luận:

    • Bổ sung và phát triển hệ thống lý luận tội phạm học về tội tham ô tài sản ở Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa;
    • Làm rõ các đặc trưng về tình hình tội phạm (mức độ, tính chất, cơ cấu theo loại tội, hình phạt, thủ đoạn, lĩnh vực, nhân thân và diễn biến tăng giảm);
    • Hệ thống hóa và phân tích cơ chế tác động của các nhóm nguyên nhân khách quan (quản lý nhà nước, công tác cán bộ, tuyên truyền, phát hiện xử lý) và chủ quan (tâm lý người phạm tội); làm rõ mối quan hệ tương tác giữa hoạt động đấu tranh chống tội phạm và hoạt động phòng ngừa tội tham ô tài sản.
  • Đóng góp về thực tiễn:

    • Cung cấp bức tranh toàn cảnh, thực chứng về thực trạng và diễn biến tội tham ô tài sản tại Việt Nam trong suốt giai đoạn 10 năm (2010–2019) dựa trên phân tích số liệu toàn quốc và khảo sát 585 bản án sơ thẩm tại 45 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
    • Đưa ra dự báo có căn cứ khoa học về xu hướng diễn biến của loại tội phạm này trong thời gian tới;
    • Đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện, có tính khả thi, gắn kết trực tiếp các biện pháp quản lý kinh tế, đổi mới công tác cán bộ, cải cách chính sách tiền lương, nâng cao hiệu quả thanh tra, điều tra và giám định tư pháp nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội phạm trên thực tế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu:

    • Luận án tập trung khảo sát số liệu xét xử sơ thẩm trong phạm vi 10 năm (2010–2019), chưa có điều kiện khảo sát sâu kinh nghiệm phòng ngừa tội tham ô tài sản của các quốc gia cụ thể trên thế giới để tiến hành so sánh đối chiếu đa chiều;
    • Việc xây dựng lộ trình triển khai chi tiết từng bước cho từng biện pháp phòng ngừa cụ thể áp dụng cho từng mô hình doanh nghiệp hoặc từng ngành kinh tế đặc thù chưa được trình bày thật toàn diện.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:

    • Mở rộng nghiên cứu so sánh quốc tế về các mô hình kiểm soát độc lập tài sản công và kinh nghiệm phòng ngừa tham ô trong các tập đoàn kinh tế đa quốc gia;
    • Nghiên cứu chuyên sâu về xây dựng khung chỉ số rủi ro tham ô tài sản định lượng theo từng ngành, lĩnh vực để ứng dụng trong quản trị rủi ro tại các cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp có vốn nhà nước.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:

    • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên chuyên ngành Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm, Luật Hình sự, Luật Tố tụng hình sự tại các cơ sở đào tạo luật học và lực lượng vũ trang;
    • Cán bộ lãnh đạo, điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán tại các cơ quan tiến hành tố tụng (Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân các cấp, Tòa án nhân dân các cấp);
    • Cán bộ làm công tác thanh tra, kiểm toán, nội chính tại Thanh tra Chính phủ, Kiểm toán Nhà nước, Ban Nội chính Trung ương và Ban Nội chính các tỉnh ủy, thành ủy;
    • Các cơ quan hoạch định chính sách, hoàn thiện thể chế quản lý kinh tế và công tác tổ chức cán bộ.
  • Phần nội dung có giá trị tham khảo cao:

    • Hệ thống dữ liệu thống kê mô tả thực trạng, cơ cấu và diễn biến tội tham ô tài sản tại Chương 1 (25 bảng số liệu và 29 biểu đồ chi tiết);
    • Phân tích cơ chế tác động của các sơ hở trong quản lý kinh tế, mua sắm công, đất đai, ngân hàng và công tác cán bộ tại Chương 2;
    • Các giải pháp hoàn thiện quy trình kiểm soát nội bộ, kiểm soát tài sản thu nhập và phối hợp phát hiện, xử lý tội phạm tại Chương 3.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ xét xử tội tham ô tài sản trong nhóm tội phạm về tham nhũng tại Việt Nam giai đoạn 2010–2019 là bao nhiêu?
Trong giai đoạn 2010–2019, Tòa án nhân dân các cấp đã xét xử sơ thẩm 2.485 vụ với 4.635 bị cáo về tội tham ô tài sản, chiếm 59,1% về số vụ và 56,8% về số bị cáo trong tổng số 4.203 vụ án và 8.156 bị cáo thuộc nhóm tội phạm tham nhũng được đưa ra xét xử sơ thẩm trên toàn quốc.

2. Dữ liệu thực nghiệm của luận án được thu thập từ những nguồn nào và quy mô khảo sát ra sao?
Dữ liệu thực nghiệm được thu thập từ nguồn số liệu thống kê gốc của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao (2010–2019) kết hợp với phân tích mẫu chọn ngẫu nhiên đơn giản gồm 585 bản án hình sự sơ thẩm về tội tham ô tài sản tại 45 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trên cả nước.

3. Những thủ đoạn phạm tội và loại tài sản bị chiếm đoạt phổ biến nhất được luận án chỉ ra là gì?
Tài sản bị chiếm đoạt phổ biến nhất là tiền, trong đó các vụ án có giá trị đặc biệt lớn gia tăng. Thủ đoạn phạm tội điển hình là sử dụng sự gian dối (lập khống chứng từ kế toán, lập khống hợp đồng kinh tế, nâng giá trị tài sản, nâng khống khối lượng xây dựng, tẩy xóa sửa chữa sổ sách kế toán) nhằm chiếm đoạt hoặc che giấu hành vi chiếm đoạt tài sản được giao quản lý.

4. Luận án xác định các nhóm nguyên nhân chính nào làm phát sinh tội tham ô tài sản?
Luận án chỉ ra 5 nhóm nguyên nhân: (1) Hạn chế trong tổ chức, quản lý nhà nước về doanh nghiệp nhà nước, mua sắm công, ngân sách, đất đai, ngân hàng, đầu tư xây dựng; (2) Hạn chế trong công tác tuyển chọn, bổ nhiệm, quản lý, đánh giá cán bộ và chế độ tiền lương; (3) Hạn chế trong tuyên truyền, giáo dục pháp luật và đạo đức công vụ; (4) Hạn chế trong phát hiện, thanh tra, kiểm tra, điều tra, xử lý tội phạm; (5) Đặc điểm tâm lý tiêu cực, lối sống thực dụng và sự suy thoái đạo đức của người phạm tội.

5. Luận án đề xuất những nhóm biện pháp phòng ngừa trọng tâm nào?
Luận án đề xuất 4 nhóm biện pháp: đổi mới tổ chức và siết chặt quản lý nhà nước về kinh tế - xã hội; hoàn thiện quy trình tuyển chọn, bổ nhiệm, kiểm soát quyền lực, minh bạch tài sản cán bộ và cải cách tiền lương; nâng cao hiệu quả tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng và đạo đức nghề nghiệp; tăng cường năng lực phát hiện, xử lý nghiêm minh của các cơ quan kiểm tra, thanh tra, kiểm toán và cơ quan tiến hành tố tụng.

Kết luận

Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Nguyễn Thị Hương đã nghiên cứu toàn diện tình hình tội tham ô tài sản ở Việt Nam giai đoạn 2010–2019 dưới góc độ tội phạm học. Thông qua phương pháp nghiên cứu định lượng kết hợp định tính và nguồn dữ liệu thực chứng từ 585 bản án sơ thẩm tại 45 địa phương, công trình đã làm sáng tỏ thực trạng, tính chất, cơ cấu, diễn biến và hệ thống nguyên nhân làm phát sinh loại tội phạm này. Trên cơ sở đó, luận án xây dựng các dự báo khoa học và đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp phòng ngừa đồng bộ, góp phần hoàn thiện lý luận chuyên ngành và cung cấp tài liệu tham khảo cho công tác phòng, chống tham ô tài sản ở Việt Nam.