Chương 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VÀ NHỮNG QUY ĐỊNH CUA PHÁP LUẬT VE TOI TO CHỨC, MOI GIỚI CHO NGƯỜI KHAC TRON ĐI NƯỚC NGOÀI HOẶC Ở LẠI NƯỚC NGOÀI TRÁI PHÉP 1. Một số van đề lý luận về tội tổ chức, môi giới cho người khác trén đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép 1. Khái niệm Nghiên cứu để định nghĩa được khái niệm của tội "Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép", trước hết chúng ta cần hiểu "Tội phạm là gì?".GS Lê Cảm: "Tội phạm là một hiện tượng xã hội - pháp lý gắn liền với sự ra đời của nhà nước và pháp luật, cũng như với sự xuất hiện của sở hữu tư nhân và sự phân chia xã hội thành các giai cấp đối kháng" [2, tr. Đề bảo vệ đặc quyền của mình, Nhà nước sẽ quy định những hành vi nguy hiểm nào bi coi là tội phạm va áp dụng TNHS đối với chủ thé thực hiện hành vi đó.
10 Với khái niệm này, tội phạm được các nhà làm luật đưa ra có bốn đặc điểm (dấu hiệu) cơ bản: Là hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực TNHS thực hiện, có lỗi và trái với pháp luật hình sự. Khi nghiên cứu về khái niệm tội phạm, theo TSKH.GS Lê Cảm: Khái niệm tội phạm phải bao hàm đầy đủ năm đặc điểm (dấu hiệu) trên cả ba bình diện khách quan, pháp lý và chủ quan. Bình diện khách quan (nội dung) - tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội (1); Bình diện pháp lý (hình thức) - tội phạm là hành vi trái pháp luật (2); Bình diện chủ quan - tội phạm là hành vi do người có năng lực TNHS (3) va đủ tuổi chịu TNHS (4) thực hiện một cách có lỗi (5) [2, tr. Ở Việt Nam hiện nay, khái niệm "Tổ chức, môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép" vẫn là một thuật ngữ phức tạp và trong hệ thống pháp luật vẫn chưa có một khái niệm hay văn bản nào hướng dẫn về thuật ngữ nay.
Trong các văn bản quy phạm pháp luật về luật hình sự của nước ta từ trước đến nay và BLHS đều không có điều khoản quy định khái niệm về hành vi tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép. Cũng trên co sở khái niệm về tội phạm nói chung, trong cuốn "Hé thống pháp luật hình sự Việt Nam - Bình luận khoa học Bộ luật Hinh sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) - Tập 1" của TS. Lê Đăng Doanh - PGS. Cao Thị Oanh đã đưa ra khái niệm: Điều luật quy định hai tội: Tội tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép và Tội môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép [4, tr.
- Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép là chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài mà không được phép cua cơ quan có thâm quyên. 11 - Môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài trái phép là hành vi dẫn dat, làm trung gian nhằm giúp người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài mà không được phép của cơ quan có thâm quyền [4, tr. Mặc dù không có định nghĩa pháp lý chính thức về hành vi "Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép" nhưng trong thực tiễn công tác điều tra, truy tố, xét xử loại tội phạm này, đánh giá tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, căn cứ vào các quy định pháp luật hiện hành, tác giả đưa ra khái niệm như sau: "Tội tổ chức, môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép là hành vi nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong BLHS, do người có năng lực TNHS thực hiện một cách cô ý nhằm mục đích đưa người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép mà không được phép của cơ quan có thâm quyền, trực tiếp xâm phạm trật tự quản lý hành chính trong lĩnh vực xuất cảnh, nhập cảnh, quyền tự do cư trú của công dân và phải chịu hình phat theo quy định của BLHS; trong đó tô chức cho người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài là chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy người khác trốn di nước ngoài hoặc ở lai nước ngoài mà không được phép của cơ quan có thâm quyền; môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoai trái phép là hành vi dẫn dắt, làm trung gian nhằm giúp người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép mà không được phép của cơ quan có thầm quyền". Đặc điểm Từ khái niệm nêu trên, ta có thể chỉ ra một số đặc điểm cơ bản của tội Tổ chức, môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép, đó là: Một là, tội Tô chức, môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép là tội ghép, quy định bốn hành vi độc lập với nhau 12 (hành vi tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài, hành vi môi giới cho người khác trốn di nước ngoài, hành vi t6 chức cho người khác ở lại nước ngoài, hành vi môi giới cho người khác ở lại nước ngoài).
Đối với tội danh được quy định tại Điều 349 BLHS được hiểu là nhiều tội được quy định trong một điều luật, đây là các tội phạm độc lập khác nhau, có cau thành tội phạm khác nhau nhưng được quy định trong một điều luật. Hai là, về đặc điểm tội này là tội có cau thành hình thức (cấu thành tội phạm có một dấu hiệu của mặt khách quan là hành vi nguy hiểm cho xã hội, dấu hiệu hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm). Đối với tội này, chỉ riêng hành vi nguy hiểm cho xã hội đã thể hiện được đầy đủ tính nguy hiểm của tội phạm hoặc hậu quả nguy hiểm cho xã hội là hậu quả khó xác định. Việc quy định tội phạm có cầu thành hình thức thể hiện quan điểm của Nhà nước trong công tác đấu tranh phòng chống đối với loại tội phạm này, thê hiện sự nghiêm khắc của Nhà nước trong việc xử lý loại tội phạm này (chỉ cần có hành vi xâm phạm, không cần phải có hậu quả xảy ra là đã có thê bị xử lý hình sự).
Ba là, khách thé mà tội Tô chức, môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép xâm phạm đến các quy định Nhà nước về quản lý dân cư, quản lý hoạt động xuất cảnh cư trú của công dân. Tội phạm này được quy định nhằm đấu tranh phòng và chống các hành vi tổ chức, môi giới người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép. Khách thé loại của tội Tổ chức, môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép là những quy định của Nhà nước nhằm bảo đảm trật tự quản lý hành chính, tội phạm này thuộc Chương XXII là chương các tội xâm phạm quản lý hành chính. Khách thé trực tiếp của tội Tổ chức, môi giới cho người khác trén đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép trực tiêp xâm hại đên các quy định 13 Nhà nước về quản lý dân cư, quản lý hoạt động xuất nhập cảnh, đây là những quy định nhằm bảo đảm trật tự quản lý hành chính trong lĩnh vực quản lý dân cư, quản lý hoạt động xuất nhập cảnh.
Bốn là, về chủ thé của tội Tổ chức, môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép do người có đủ năng lực TNHS, đủ tuổi chịu TNHS và được thực hiện một cách có lỗi cố ý, nhăm mục đích đưa người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép mà không được phép của co quan có thâm quyền. Như vậy, về chủ thé của tội nay chi có thé là cá nhân, không có chủ thé là pháp nhân thương mại. Đây là chủ thé bình thường. Năm là, đối với tội Tổ chức, môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và mong muốn thực hiện hành vi đó.
Vì vay, CÓ thể khẳng định người thực hiện hành vi phạm tội tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép có lỗi cố ý trực tiếp. Sáu là, xác định mục đích của người thực hiện hành vi phạm tội Tổ chức, môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép có ý nghĩa rất quan trọng trong việc định tội danh. Đối với loại tội này thì mục đích của người phạm tội là vì tính chất cá nhân, nhưng nếu có mục đích chống chính quyền nhân dân thì người thực hiện hành vi phạm tội sẽ phạm tội trén đi nước ngoài hoặc trén ở lại nước ngoải nhằm chống chính quyền nhân dân (Điều 121 BLHS). Mục đích là yếu tố quan trọng để xác định người thực hiện hành vi phạm Tội tô chức, môi giới cho người khác trồn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép (Điều 349 BLHS) hay Tội trồn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân (Điều 121 BLHS).
Quy định của pháp luật về Tội tổ chức, môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép trong Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đỗi, bỗ sung năm 2017) 1. Các yếu tổ cấu thành tội phạm Cấu thành tội phạm là tông thê các dau hiệu pháp lý đặc trưng của tội phạm cụ thể được quy định trong BLHS, là cơ sở, những điều kiện cần thiết để xem xét một hành vi nào đó của chủ thể đã thực hiện có phải là tội phạm hay không phải tội phạm. Cấu thành tội phạm phải có đầy đủ 04 yếu tố: khách thể của tội phạm, chủ thể của tội phạm, mặt khách quan của tội phạm, mặt chủ quan của tội phạm [3]. Khách thể của tội phạm Khoa học luật hình sự Việt Nam phân biệt ba loại khách thể của tội phạm, đó là: Khách thể chung của tội phạm, khách thể loại của tội phạm và khách thể trực tiếp của tội phạm.
Các khái niệm này đều chỉ các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại nhưng ở mức độ bao quát khác nhau [28, tr.