CHƯƠNG 1 LICH SỬ LẬP PHAP CAC TOI PHAM VE CO BAC THEO PHÁP LUAT HÌNH SỰ VIET NAM 1. Các tội phạm về cờ bac trong pháp luật thời kỳ trước cách mạng tháng tam năm 1945 Do điều kiện có hạn nên chúng tôi nghiên cứu pháp luật phong kiến trong phạm vi Bộ luật Hong Duc và Bộ luật Gia Long hiện còn được lưu giữ đến nay. Theo Điều 188, Bộ Luật Hồng Đức có quy định như sau:“4i tu tập đánh bạc thì bị đánh 70 trượng, biém ba tư, phạt ba quan tiền, thưởng cho kẻ tổ cáo. Người đứng dau hay tai phạm tội đánh bac thì tang một bực lội.
Kẻ a từng giảm một bực tội. Tién trong song bac ăn thua va văn tu mua ban dé đánh bạc déu nhập công khố. Dang khi quốc tang mà đánh bạc thì thêm một bực tội. Nếu sinh sự trong đánh bạc thì bị xử riêng).
Như vậy, theo Bộ luật Hồng Đức đã coi đánh bạc là hành vi tội phạm và nghiêm tri người đứng đầu tổ chức đánh bạc. Đặc biệt Bộ luật Hong Duc còn tăng nặng TNHS trong các trường hợp đánh bac khi có quốc tang hoặc có hành vi chống đối. Đến Bộ luật Gia Long cũng cũng quy định nghiêm cắm việc đánh bạc với hành phạt rất nghiêm khắc. Điều thứ 343 Bộ luật Gia Long ban hành năm 1815 quy định hình phạt tịch thu tài sản đối chủ chứa bạc sung công quỹ nhà nước, các con bac bị phạt 100 roi hay đi phu dịch 03 năm.
Thời kỳ nhà nước Việt Nam bị Thực dân Pháp đô hộ đã chia nước ta thành 3 miền: Bắc, Trung, Nam. Xứ Nam Ky có Bộ hình luật Canh cải nam 1912. Tại Trung kỳ có Bộ Hoàng Việt Hình Luật ban hành năm 1933 và Bắc kỳ có Bộ Hình luật ban hành năm 1922. Các Bộ luật trên cũng đề cập đến hành vi đánh bạc.
Ví dụ: Điều 399 Bộ Hoàng Việt Hình Luật (BLHS Trung Kỳ 1933) quy định: “ Những người ngoài 16 tuổi bắt được quả tang đánh bạc ở sòng bạc sẽ bị phạt giam từ 01 tháng đến 02 tháng.Những người mở sòng đánh bạc hoặc không được phép mở ra các cuộc số x6 sẽ bị phạt giam từ 06 tháng đến 02 năm hoặc bị phạt bac.” Minh chứng trên cho thấy, trong thời ky Phong Kiến hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc, gá bạc đều bị coi là tội phạm và phải chịu hình phạt ở mức độ khác nhau có thê bị phạt tù giam hoặc bị phạt tiền. Các tội phạm về cờ bạc trong pháp luật hình sự thời kỳ sau Cách mạng tháng tám năm 1945 đến trước khi có BLHS năm 1985 Trong thời kỳ sau Cách mạng tháng tám, nhà nước Việt Nam tạm bị chia cắt thành hai miền Nam, Bắc. Ở miền Nam tôn tại chế độ Việt Nam Cộng Hòa đã ban hành Bộ luật hình sự năm 1972 quy định tại Điều 458 với nội dung: “sẽ bị phạt giam từ 6 tháng đến 5 năm và phạt vạ từ năm chục ngàn đồng đến một triệu đồng đối người tổ chức, chứa gá hay cầm cái một song cờ bạc để cho công chúng vào tự do.” Điều 459 sẽ phạt từ một tháng đến sáu tháng và phạt vạ từ mười ngàn đồng đến năm trăm ngàn đồng đối người tham gia dự sòng bạc (người tham gia đánh bạc). Ở miền Bắc, chính quyền Dân Chủ Nhân Dân được thiết lập, nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã có chính sách ôn định trật tự xã hội khi mới dành chính quyền, do đó Chủ Tịch Hồ chí Minh đã ký các sắc luật cho phép sử dụng pháp luật của chế độ Phong Kiến mà không trái với nguyên tắc Độc lập — Chủ quyền của Nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.
Đồng thời sau đó Nhà nước Việt Nam đã ban hành một số sắc luật liên quan đến tội phạm cờ bạc như sau: Trong Sắc lệnh số 168/SL ban hành ngày 14-4-1948 quy định về các tội cờ bạc tại Điều 1.Tat cả các trò chơi cờ bạc, dù là có tính cách may rủi hay là có thé dùng trí khôn dé tính nước mà được thua bằng tiền, đều coi là tội đánh bạc và bị phạt như sau: Những cuộc đánh đồ nhau bằng tiền, những cuộc xổ số bằng tiền hay bằng đô mà không có nhà chức trách có thẩm quyền cho phép trước cũng déu bị phạt như tội đánh bạc. Những người nào tô chức một cuộc đánh bài, đánh bạc, một trò chơi ké trong Diéu 1 không cứ ở một nơi nào, đêu bị phạt tù từ 2 năm đến 5 năm và phạt bạc từ 10. Những người nào giúp người khác tổ chức những cuộc nói trên, những người chủ nhà tri tình mà để người đã đánh bài, đánh bạc trong nhà mình không cứ là có thu lợi hay không, những người quản trị, người làm cái, lấy hồ, déu bị phạt như người tổ chức. Các người làm công khác giúp trực tiếp vào các cuộc chơi déu bị phạt là tòng phạm.
Những người nào danh bạc hay dự vào các cuộc chơi nói trên sẽ bi phạt tù từ 1 năm đến 3 năm và phat bạc từ 5. Tại Điều 4 của Sắc lệnh quy định dù có nhiều tình tiết giảm nhẹ cũng không cho hưởng án treo.và “Nếu có trường hợp tai phạm, các hình phạt sẽ tăng gấp đôi”, theo quy định của Điều 2 nêu trên. Như vậy, theo Sắc lệnh 168/SL hình phạt quy định với hành vi đánh bạc, tô chức đánh bạc, gá bạc là rất nghiêm khắc. Đến năm 1957, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư 301/VHH-HS ngày 14/2/1957 và Thông tư 2098/VHH-HS ngày 31/5/1957 về việc bài trừ tệ nạn cờ bạc và giải quyết một phần vướng mắc của Sắc 1énh168/SL.[08] Theo Thông tư 301/VHH -HS quy định các đối tượng bị xử lý về các tội cờ bạc, thường là có nhân thân không tốt, lấy cờ bạc làm nghề sinh sống hoặc đã bị xử lý cảnh cáo rồi mà vẫn tiếp tục chơi cờ bạc, thé hiện thái độ coi thường pháp luật thì mới bị truy tó.
Sau năm 1975 Miền Nam hoàn toàn giải phóng, ngày 15/3/1976 Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam đã ban hành sắc luật số 03, Điều 9 quy định: “Co bạc, tổ chức 6 mãi dâm, buôn bán, tàng trữ ma túy và các chat độc khác thì bị phạt tù, từ ba tháng đến năm năm. Trường hop nghiêm trọng thì bị phạt tù đến mười lăm năm. Trong mọi trường hợp có thể bị phạt tiên đến 1.000 dong Ngân hàng". Văn bản này sau đó được áp dụng thống nhất trong cả nước cùng với các văn bản quy định về các tội phạm về cờ bạc được áp dụng trên các tỉnh phía bắc.
Như vậy, sau khi dành chính quyền, Nhà nước Việt Nam đã coi hành vi chơi các loại trò chơi có sự được, thua băng tiền, tài sản mà không được phép của cơ quan có thầm quyên thì đều coi là vi phạm pháp luật, tùy vào mức độ nguy hiểm mà có thé bị truy cứu TNHS. Các tội phạm về cờ bạc trong BLHS năm 1985 Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1985 ra đời và có hiệu lực từ 1/1/1986. Đây là lần đầu tiên pháp điển hóa các quy định của pháp luật hình sự ở nước ta, tat cả các van đề về tội phạm và hình phạt đều được quy định trong BLHS. Sự ra đời của Bộ luật hình sự năm 1985 đã thay thế cho tất cả các văn bản pháp luật được áp dụng từ 1945 đến ngày 01/01/1986.
Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985 quy định các dấu hiệu cấu thành tội phạm đối với các hành vi cờ bạc gồm tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc. Các tội phạm về cờ bạc quy định tại Điều 200 Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985 cùng với các quy định trong phần chung của Bộ luật và các văn bản hướng dẫn thi hành là cơ sở pháp lý cho việc xử lý các tội phạm về cờ bạc trong giai đoạn này. Tại khoản 1 Điều 200 Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1985 quy định về tội đánh bạc: "Người nào đánh bạc dưới bất kì hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vat, thi bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba thẳng đến ba năm". Khoản 2 và Khoản 3, Điều 218 Bộ luật Hình sự 1985 cũng quy định các hình phat bồ sung đối với các tội phạm này bao gôm: "Có thé bi phạt quản chê hoặc cam cư tru từ một năm đên năm 10 năm" và " bị phạt tiền từ 1 triệu đồng đến 5 triệu đồng và có thể bị tịch thu một phan tai sản".[24, Điều 200, Điều 218] Về tội đánh bạc, tại khoản 1 Điều 200 Bộ luật hình sự xác định tội đánh bạc là: "Đánh bạc dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vár".
Hình phạt được áp dụng đối với tội đánh bạc là phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm. Ngoài ra, hình phạt bố sung là hình phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 1 năm đến 5 năm. Hình phạt tiền được áp dụng là hình phạt phụ là từ hai triệu đồng đến năm triệu đồng, người phạm tội còn có thể bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Quy định của Điều 200 Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985 còn có những hạn chế nhất định, phát sinh những vướng mắc trong quá trình áp dụng pháp luật hình sự về đấu tranh phòng, chống đối với các đôi tượng đánh bạc nói riêng và các đôi tượng tội phạm về cờ bạc nói chung: Thứ nhất, có thé nhận thay rang: Các tội đánh bạc, tô chức đánh bac hoặc gá bạc cùng được quy định trong một điều luật, các dấu hiệu cau thành tội đánh bạc gần như không có điểm chung với các dấu hiệu cấu thành tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc.
Vì vậy, tuy đã được sắp xếp ở hai khung khác nhau, nhưng rõ ràng cách quy định này là chưa có tính khoa học, không có sự phân hóa tính chất, mức độ nguy hiểm của từng loại hành vi phạm tội, do đó gây khó khăn cho quá trình áp dụng. Thứ hai, quy định về cả ba tội đều không nêu rõ ranh giới giữa vi phạm hành chính và tội phạm đối với các hành vi cờ bạc.