Chương 1 MOT SO VAN DE CHUNG VE TOI CƯỚP TÀI SAN 1. Khai niệm tội cướp tài san Theo khoản 1 Điều 8 BLHS 2015 thì tội phạm được định nghĩa như sau: “Toi phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cô ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyên, thong nhất,toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nên văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyên, lợi ích hợp pháp của tô chức, xâm phạm quyên con người, quyên, lợi ích của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định cua Bộ luật này phải bị xử ly hình sự `. Tội cướp tài sản được quy định tại Điều 168 BLHS 2015, nó mang đầy đủ các dấu hiệu của tội phạm nói chung nhưng cũng có các đặc điểm chung của các loại tội phạm xâm phạm quyền sở hữu. Tội cướp tài sản xâm phạm đồng thời hai quan hệ pháp luật được pháp luật hình sự bảo vệ, đó là quan hệ nhân thân và quan hệ sở hữu.
Trong đó, quan hệ sở hữu là quan hệ xã hội được Nhà Nước quan tâm bảo vệ được quy định rõ ràng, cụ thê tại Điều 32 Hiến pháp 2013. Đề hiểu rõ khái niệm của tội cướp tài sản, tác giả đã nghiên cứu, tìm hiểu các thuật ngữ pháp lý có liên quan như “chiếm đoạt”, “cướp”. Dưới góc độ pháp luật hình sự, “chiếm doat tài san” là hành vi chuyên dich trái pháp luật tài sản đang thuộc sự quản lý của chủ tài sản thành tài sản của mình!. Đối tượng tác động của hành vi chiếm đoạt là tài sản, đòi hỏi phải có đặc điểm là còn năm trong sự chiếm hữu, quản lý của chủ tài sản.
Theo từ điền tiếng việt, “Cướp là lấy quý giá của người khác bằng vũ lực hoặc thủ đoạn. ”? ! Trường đại học Luật Hà Nội (2019), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam. Phần các tội phạm, Quyền 1,Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr. ? Nguyễn Như Ý (2010), Từ điền tiếng việt, Nxb Thành phó Hồ Chí Minh, tr.
8 Trong khoa học luật hình sự, các tác gia đã có nhiều quan điểm khác nhau khi xác định khái niệm cướp tài sản. Trong Giáo trình Luật hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội đã nêu về khái niệm tội cướp tài sản như sau: “Cướp tai sản là ding vũ lực, de doa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác lam cho người bị tan công lâm vào tinh trạng không thé chong cự được nhằm chiếm đoạt tài san”. Đây là quan điêm phô biên và được da sô các tác gia xác định. Theo tác giả Đặng Đức Chinh: “7i cướp tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội do người có năng lực trách nhiệm hình sự CO y thực hiện hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công (bị hại) lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm tài sản, trực tiếp gây thiệt hại đến quyên sở hữu tài sản hợp pháp của công dân '°.
Các quan điểm trên tuy có sự khác nhau nhưng đều thống nhất răng cướp tài sản là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thê chống cự được, nhằm mục đích chính là chiêm đoạt tài sản của người khác. Pháp luật đã quy định tội cướp tài sản tại Điều 168 BLHS 2015 với nội dung là: “Người nào ding vũ lực, de doa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài san,. Từ quy định nay, ta có thé đưa ra những đặc điểm sau của tội cướp tài sản: Một là, Tội cướp tài sản là loại tội phạm có tính nguy hiểm cao cho xã hội. Đề nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản, người phạm tội cướp tài sản thực hiện hành vi “ding vii luc” hoặc “đe dọa dung vii luc” hoặc “hành vi khác khién người bị tan cong lâm vào tình trạng không thé chống cự duoc”.
Hanh vi này 3 Đặng Đức Chinh (2020), Tội cướp tài san từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng, Luận văn thạc sĩ; Viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, tr. 9 đồng thời xâm phạm hai quan hệ xã hội quan trọng được BLHS bảo vệ là quan hệ nhân thân và quan hệ sở hữu. Ngoài ra, tội phạm này còn gây ra rỗi loạn, đe doa trật tự an toàn xã hội. Bên cạnh đó, việc xâm phạm cùng lúc hai khách thê thường được dùng dé phân biệt tội cướp tài sản với các tội phạm tương đồng khác.
Hai là, Tội cướp tài sản được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Người thực hiện hành vi cướp tài sản với mong muốn chiếm đoạt tài sản sẽ chắc chắn nhận thức được việc cướp, dùng vũ lực có thể gây thương tích, tôn hại cho sức khỏe của bị hại, mất mát về tài sản nhưng người phạm tội vẫn cô ý thực hiện và mong muôn hậu quả trực tiép là thiệt hại về tài sản xảy ra. Ba là, Tội cướp tài sản là hành vi trái pháp luật hình sự. Một hành vi gây nguy hiểm cho xã hội nhưng không được quy định trong pháp luật hình sự thì không được coi là tội phạm, chỉ những hành vi tac động đến các đối tượng được pháp luật hình sự bảo vệ, thỏa mãn các dau hiệu trong pháp luật hình sự mới bị coi là tội phạm.
Đây là đặc điểm được quy định bởi dấu hiệu nội dung của tội phạm là tính nguy hiém cho xã hội và có lôi. Bốn là, Người phạm tội là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuôi theo quy định của BLHS. Trong BLHS năm 2015, không quy định cụ thể thế nào là trường hợp có trách nhiệm hình sự mà chỉ quy định tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự (Điều 21) và tuổi chịu trách nhiệm hình sự (Điều 12). Với những quy định đó, pháp luật hình sự mặc nhiên thừa nhận những người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự là có năng lực trách nhiệm hình sự, trừ trường hợp không có năng lực nhận thức hoặc năng lực hành điều khiển hành vi.
Như vậy, từ các phân tích trên, tác giả đưa ra khái niệm tội cướp tài sản như sau: Tội cướp tài sản là hành vi nguy hiểm cao cho xã hội, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện với lỗi cổ y, xâm phạm đến quan hệ nhân thân và quyên sở hữu tài sản, thông qua hành vi ding vũ lực, de doa dùng 10 vũ lực ngay tức khắc hoặc hành vi khác khiến người bị tân công lâm vào tình trạng không thé chong cự nhằm chiếm đoạt tài sản. Ý nghĩa của việc quy định tội cướp tài sản trong Bộ luật hình sự Việc quy định tội cướp tài sản trong Bộ luật hình sự đã thể hiện sự quan tâm của Nhà nước trong việc bảo vệ quyền sở hữu của Nhà nước, tô chức, công dân — Một trong các quyền cơ bản được ghi nhận trong Hiến pháp, trong pháp luật hình sự. Việc này đã tạo ra cơ sở pháp lý quan trọng dé bảo vệ quyền sở hữu về tài sản của Nhà nước, của cơ quan, tô chức và công dân khỏi sự xâm phạm của tội phạm, là căn cứ quan trọng dé cá thé hóa trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với người thực hiện tội phạm. Cho nên, tất cả các hành vi thỏa mãn các dau hiệu trong cau thành tội cướp tai san được quy định trong Bộ luật hình sự đều bi coi là tội phạm va bị xử lý bằng chế tài hình sự nhằm đảm bảo quyên và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tô chức và công dân.
Bên cạnh đó, hành vi cướp tài sản của người khác là nguy hiểm cho xã hội, gây hậu quả nghiêm trọng với các cá nhân, tô chức, so với bất kỳ hành vi vi phạm pháp luật nào khác, nó xâm phạm trực tiếp đến quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần thiết phải xử lý người thực hiện hành vi phạm tội bằng biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất là hình phạt. Do đó, việc quy định tội cướp tài sản trong BLHS góp phần xác định rõ ranh giới giữa tội phạm này với tội phạm khác, đồng thời là bước quan trọng dé tiến tới hoàn thiện thê chế trong các giai đoạn tiếp theo. Và góp phần nâng cao hiệu quả của công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội, từng bước hạn chế, đây lùi và loại bỏ tội phạm này ra khỏi xã hội.
Ngoài ra, việc quy định tội cướp tài sản trong BLHS còn có ý nghĩa trong việc giáo dục ý thức tôn trọng pháp luật về quyền sở hữu tài sản nhằm nâng cao ý thức pháp luật, ý thức đấu tranh và phòng ngừa tội phạm nói trên và răn đe những người có ý định phạm tội, bảo vệ quyên và lợi ích của công dân. Khái quát lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về tội cướp tài sản 1. Tội cướp tài sản trong luật hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến trước Bộ luật hình sự 1985. Ngày 02 tháng 09 năm 1945, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được thành lập.
Chính quyền cách mạng lúc bấy giờ còn non trẻ, phải tận trung mọi nguồn cơ sở vật chất, nhân lực đề tiễn hành cách mạng. Mặc dù, Nhà nước vẫn dành sự quan tâm đến việc đấu tranh phòng chống các loại tội phạm, nhằm ồn định tình hình an ninh xã hội, bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân nhưng việc đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và tội Cướp tải sản nói riêng không được đặt nên hàng đầu.