Khoá luận tốt nghiệp tội cướp tài sản trong bộ luật hình sự năm 2015 từ thực tiễn xét xử tại toà án nhân dân huyện đông anh

Chuyên khảo luật học phân tích Khoá luận tốt nghiệp tội cướp tài sản trong bộ luật hình sự năm 2015 từ thực tiễn xét xử tại toà án, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất

Chuyên ngành

Luật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2023

86
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI CƯỚP TÀI SẢN

1.1. Khái niệm tội cướp tài sản

1.2. Ý nghĩa của việc quy định tội cướp tài sản trong Bộ luật hình sự

1.3. Khái quát lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về tội cướp tài sản

1.3.1. Tội cướp tài sản trong luật hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến trước Bộ luật hình sự 1985

1.3.2. Tội cướp tài sản trong Bộ luật hình sự năm 1985

1.3.3. Tội cướp tài sản trong Bộ luật hình sự năm 1999

1.3.4. Tội cướp tài sản trong Bộ luật hình sự năm 2015

1.4. Kết luận Chương 1

2. CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015 VỀ TỘI CƯỚP TÀI SẢN

2.1. Dấu hiệu pháp lý của tội cướp tài sản

2.2. Khách thể của tội phạm

2.3. Mặt khách quan của tội phạm

2.4. Chủ thể của tội phạm

2.5. Mặt chủ quan của tội phạm

2.6. Hình phạt với tội cướp tài sản

2.6.1. Khung hình phạt cơ bản

2.6.2. Khung hình phạt tăng nặng thứ nhất

2.6.3. Khung hình phạt tăng nặng thứ hai

2.6.4. Khung hình phạt tăng nặng thứ ba

2.6.5. Hình phạt bổ sung

2.7. Phân biệt tội cướp tài sản với một số tội phạm khác trong Bộ luật

2.7.1. Phân biệt tội cướp tài sản với tội cưỡng đoạt tài sản

2.7.2. Phân biệt tội cướp tài sản với tội trộm cắp tài sản

2.8. Kết luận Chương 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN XÉT XỬ VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI CƯỚP TÀI SẢN

3.1. Thực tiễn xét xử tội cướp tài sản tại Tòa án nhân dân huyện Đông Anh trong 5 năm 2018 - 2022

3.2. Khái quát về đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội

3.3. Thực tiễn định tội danh của tội cướp tài sản

3.4. Thực tiễn quyết định hình phạt của tội cướp tài sản

3.5. Một số khó khăn, bất cập

3.6. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quy định pháp luật hình sự về tội cướp tài sản

3.6.1. Hoàn thiện quy định của Bộ luật Hình sự về tội cướp tài sản

3.6.2. Nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và đạo đức của Thẩm phán

3.6.3. Tăng cường cơ sở vật chất, phương tiện làm việc và hoàn thiện chính sách đối với cán bộ Tòa án

3.7. Kết luận Chương 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Khái niệm tội cướp tài sản

Tội cướp tài sản được quy định tại Điều 168 Bộ luật Hình sự 2015, là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân. Theo đó, cướp tài sản không chỉ đơn thuần là việc chiếm đoạt tài sản mà còn bao gồm việc sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực để khiến nạn nhân không thể chống cự. Điều này thể hiện rõ ràng trong định nghĩa của pháp luật, nơi mà tội cướp tài sản được xác định là hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc nhằm chiếm đoạt tài sản. Tội cướp tài sản không chỉ xâm phạm đến tài sản mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng của nạn nhân, do đó, nó được coi là một trong những tội phạm có tính nguy hiểm cao cho xã hội.

1.1. Đặc điểm của tội cướp tài sản

Tội cướp tài sản có những đặc điểm nổi bật như tính nguy hiểm cao cho xã hội, thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp và là hành vi trái pháp luật hình sự. Hành vi này không chỉ xâm phạm đến quyền sở hữu mà còn gây rối loạn trật tự an toàn xã hội. Đặc biệt, người phạm tội cướp tài sản thường có nhận thức rõ ràng về hành vi của mình và mong muốn chiếm đoạt tài sản, bất chấp hậu quả có thể xảy ra cho nạn nhân. Điều này cho thấy sự nghiêm trọng của tội cướp tài sản trong bối cảnh pháp luật hình sự Việt Nam.

II. Quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về tội cướp tài sản

Bộ luật Hình sự năm 2015 đã quy định rõ ràng về tội cướp tài sản tại Điều 168. Các dấu hiệu pháp lý của tội cướp tài sản bao gồm: khách thể của tội phạm, mặt khách quan, mặt chủ quan và chủ thể của tội phạm. Khách thể của tội cướp tài sản là quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân, trong khi mặt khách quan thể hiện qua hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa. Mặt chủ quan của tội phạm này là lỗi cố ý trực tiếp, tức là người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình và mong muốn chiếm đoạt tài sản. Chủ thể của tội cướp tài sản là người có năng lực trách nhiệm hình sự, tức là người từ đủ 16 tuổi trở lên.

2.1. Hình phạt đối với tội cướp tài sản

Hình phạt đối với tội cướp tài sản được quy định rất nghiêm khắc trong Bộ luật Hình sự. Tùy thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi, hình phạt có thể là tù có thời hạn hoặc tù chung thân. Các khung hình phạt được phân chia rõ ràng, từ khung hình phạt cơ bản đến các khung hình phạt tăng nặng. Điều này thể hiện sự quyết tâm của Nhà nước trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân và đảm bảo an ninh trật tự xã hội.

III. Thực tiễn xét xử tội cướp tài sản tại Đông Anh

Thực tiễn xét xử tội cướp tài sản tại Tòa án nhân dân huyện Đông Anh trong giai đoạn từ năm 2018 đến 2022 cho thấy nhiều vấn đề cần được giải quyết. Số lượng vụ án cướp tài sản gia tăng, cho thấy sự phổ biến của loại tội phạm này trong khu vực. Tuy nhiên, việc định tội danh và quyết định hình phạt vẫn còn nhiều bất cập, dẫn đến tình trạng một số vụ án phải trải qua nhiều cấp xét xử. Điều này không chỉ gây tốn kém thời gian và nguồn lực mà còn ảnh hưởng đến niềm tin của người dân vào hệ thống tư pháp.

3.1. Khó khăn và bất cập trong thực tiễn xét xử

Một số khó khăn trong thực tiễn xét xử tội cướp tài sản bao gồm việc xác định đúng tội danh, phân biệt giữa tội cướp tài sản và tội cưỡng đoạt tài sản. Nhiều trường hợp bị cáo bị kết án oan do sự nhầm lẫn trong việc áp dụng quy định pháp luật. Hơn nữa, việc áp dụng hình phạt cũng chưa thực sự tương xứng với hành vi phạm tội, dẫn đến tình trạng một số bị cáo nhận hình phạt quá nhẹ hoặc quá nặng. Điều này cần được khắc phục để nâng cao hiệu quả của công tác xét xử và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân.

10/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 MOT SO VAN DE CHUNG VE TOI CƯỚP TÀI SAN 1. Khai niệm tội cướp tài san Theo khoản 1 Điều 8 BLHS 2015 thì tội phạm được định nghĩa như sau: “Toi phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cô ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyên, thong nhất,toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nên văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyên, lợi ích hợp pháp của tô chức, xâm phạm quyên con người, quyên, lợi ích của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định cua Bộ luật này phải bị xử ly hình sự `. Tội cướp tài sản được quy định tại Điều 168 BLHS 2015, nó mang đầy đủ các dấu hiệu của tội phạm nói chung nhưng cũng có các đặc điểm chung của các loại tội phạm xâm phạm quyền sở hữu. Tội cướp tài sản xâm phạm đồng thời hai quan hệ pháp luật được pháp luật hình sự bảo vệ, đó là quan hệ nhân thân và quan hệ sở hữu.

Trong đó, quan hệ sở hữu là quan hệ xã hội được Nhà Nước quan tâm bảo vệ được quy định rõ ràng, cụ thê tại Điều 32 Hiến pháp 2013. Đề hiểu rõ khái niệm của tội cướp tài sản, tác giả đã nghiên cứu, tìm hiểu các thuật ngữ pháp lý có liên quan như “chiếm đoạt”, “cướp”. Dưới góc độ pháp luật hình sự, “chiếm doat tài san” là hành vi chuyên dich trái pháp luật tài sản đang thuộc sự quản lý của chủ tài sản thành tài sản của mình!. Đối tượng tác động của hành vi chiếm đoạt là tài sản, đòi hỏi phải có đặc điểm là còn năm trong sự chiếm hữu, quản lý của chủ tài sản.

Theo từ điền tiếng việt, “Cướp là lấy quý giá của người khác bằng vũ lực hoặc thủ đoạn. ”? ! Trường đại học Luật Hà Nội (2019), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam. Phần các tội phạm, Quyền 1,Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr. ? Nguyễn Như Ý (2010), Từ điền tiếng việt, Nxb Thành phó Hồ Chí Minh, tr.

8 Trong khoa học luật hình sự, các tác gia đã có nhiều quan điểm khác nhau khi xác định khái niệm cướp tài sản. Trong Giáo trình Luật hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội đã nêu về khái niệm tội cướp tài sản như sau: “Cướp tai sản là ding vũ lực, de doa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác lam cho người bị tan công lâm vào tinh trạng không thé chong cự được nhằm chiếm đoạt tài san”. Đây là quan điêm phô biên và được da sô các tác gia xác định. Theo tác giả Đặng Đức Chinh: “7i cướp tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội do người có năng lực trách nhiệm hình sự CO y thực hiện hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công (bị hại) lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm tài sản, trực tiếp gây thiệt hại đến quyên sở hữu tài sản hợp pháp của công dân '°.

Các quan điểm trên tuy có sự khác nhau nhưng đều thống nhất răng cướp tài sản là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thê chống cự được, nhằm mục đích chính là chiêm đoạt tài sản của người khác. Pháp luật đã quy định tội cướp tài sản tại Điều 168 BLHS 2015 với nội dung là: “Người nào ding vũ lực, de doa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài san,. Từ quy định nay, ta có thé đưa ra những đặc điểm sau của tội cướp tài sản: Một là, Tội cướp tài sản là loại tội phạm có tính nguy hiểm cao cho xã hội. Đề nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản, người phạm tội cướp tài sản thực hiện hành vi “ding vii luc” hoặc “đe dọa dung vii luc” hoặc “hành vi khác khién người bị tan cong lâm vào tình trạng không thé chống cự duoc”.

Hanh vi này 3 Đặng Đức Chinh (2020), Tội cướp tài san từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng, Luận văn thạc sĩ; Viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, tr. 9 đồng thời xâm phạm hai quan hệ xã hội quan trọng được BLHS bảo vệ là quan hệ nhân thân và quan hệ sở hữu. Ngoài ra, tội phạm này còn gây ra rỗi loạn, đe doa trật tự an toàn xã hội. Bên cạnh đó, việc xâm phạm cùng lúc hai khách thê thường được dùng dé phân biệt tội cướp tài sản với các tội phạm tương đồng khác.

Hai là, Tội cướp tài sản được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Người thực hiện hành vi cướp tài sản với mong muốn chiếm đoạt tài sản sẽ chắc chắn nhận thức được việc cướp, dùng vũ lực có thể gây thương tích, tôn hại cho sức khỏe của bị hại, mất mát về tài sản nhưng người phạm tội vẫn cô ý thực hiện và mong muôn hậu quả trực tiép là thiệt hại về tài sản xảy ra. Ba là, Tội cướp tài sản là hành vi trái pháp luật hình sự. Một hành vi gây nguy hiểm cho xã hội nhưng không được quy định trong pháp luật hình sự thì không được coi là tội phạm, chỉ những hành vi tac động đến các đối tượng được pháp luật hình sự bảo vệ, thỏa mãn các dau hiệu trong pháp luật hình sự mới bị coi là tội phạm.

Đây là đặc điểm được quy định bởi dấu hiệu nội dung của tội phạm là tính nguy hiém cho xã hội và có lôi. Bốn là, Người phạm tội là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuôi theo quy định của BLHS. Trong BLHS năm 2015, không quy định cụ thể thế nào là trường hợp có trách nhiệm hình sự mà chỉ quy định tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự (Điều 21) và tuổi chịu trách nhiệm hình sự (Điều 12). Với những quy định đó, pháp luật hình sự mặc nhiên thừa nhận những người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự là có năng lực trách nhiệm hình sự, trừ trường hợp không có năng lực nhận thức hoặc năng lực hành điều khiển hành vi.

Như vậy, từ các phân tích trên, tác giả đưa ra khái niệm tội cướp tài sản như sau: Tội cướp tài sản là hành vi nguy hiểm cao cho xã hội, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện với lỗi cổ y, xâm phạm đến quan hệ nhân thân và quyên sở hữu tài sản, thông qua hành vi ding vũ lực, de doa dùng 10 vũ lực ngay tức khắc hoặc hành vi khác khiến người bị tân công lâm vào tình trạng không thé chong cự nhằm chiếm đoạt tài sản. Ý nghĩa của việc quy định tội cướp tài sản trong Bộ luật hình sự Việc quy định tội cướp tài sản trong Bộ luật hình sự đã thể hiện sự quan tâm của Nhà nước trong việc bảo vệ quyền sở hữu của Nhà nước, tô chức, công dân — Một trong các quyền cơ bản được ghi nhận trong Hiến pháp, trong pháp luật hình sự. Việc này đã tạo ra cơ sở pháp lý quan trọng dé bảo vệ quyền sở hữu về tài sản của Nhà nước, của cơ quan, tô chức và công dân khỏi sự xâm phạm của tội phạm, là căn cứ quan trọng dé cá thé hóa trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với người thực hiện tội phạm. Cho nên, tất cả các hành vi thỏa mãn các dau hiệu trong cau thành tội cướp tai san được quy định trong Bộ luật hình sự đều bi coi là tội phạm va bị xử lý bằng chế tài hình sự nhằm đảm bảo quyên và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tô chức và công dân.

Bên cạnh đó, hành vi cướp tài sản của người khác là nguy hiểm cho xã hội, gây hậu quả nghiêm trọng với các cá nhân, tô chức, so với bất kỳ hành vi vi phạm pháp luật nào khác, nó xâm phạm trực tiếp đến quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần thiết phải xử lý người thực hiện hành vi phạm tội bằng biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất là hình phạt. Do đó, việc quy định tội cướp tài sản trong BLHS góp phần xác định rõ ranh giới giữa tội phạm này với tội phạm khác, đồng thời là bước quan trọng dé tiến tới hoàn thiện thê chế trong các giai đoạn tiếp theo. Và góp phần nâng cao hiệu quả của công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội, từng bước hạn chế, đây lùi và loại bỏ tội phạm này ra khỏi xã hội.

Ngoài ra, việc quy định tội cướp tài sản trong BLHS còn có ý nghĩa trong việc giáo dục ý thức tôn trọng pháp luật về quyền sở hữu tài sản nhằm nâng cao ý thức pháp luật, ý thức đấu tranh và phòng ngừa tội phạm nói trên và răn đe những người có ý định phạm tội, bảo vệ quyên và lợi ích của công dân. Khái quát lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về tội cướp tài sản 1. Tội cướp tài sản trong luật hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến trước Bộ luật hình sự 1985. Ngày 02 tháng 09 năm 1945, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được thành lập.

Chính quyền cách mạng lúc bấy giờ còn non trẻ, phải tận trung mọi nguồn cơ sở vật chất, nhân lực đề tiễn hành cách mạng. Mặc dù, Nhà nước vẫn dành sự quan tâm đến việc đấu tranh phòng chống các loại tội phạm, nhằm ồn định tình hình an ninh xã hội, bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân nhưng việc đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và tội Cướp tải sản nói riêng không được đặt nên hàng đầu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Cướp Tài Sản: Phân Tích Luật Hình Sự 2015 và Thực Tiễn Xét Xử tại Đông Anh" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tội cướp tài sản theo quy định của Bộ luật Hình sự 2015, cùng với những phân tích thực tiễn từ các vụ án tại Đông Anh. Tác giả không chỉ nêu rõ các yếu tố cấu thành tội phạm mà còn chỉ ra những khó khăn trong việc áp dụng luật và thực tiễn xét xử. Bài viết mang lại lợi ích cho độc giả bằng cách giúp họ hiểu rõ hơn về quy định pháp luật, cũng như những thách thức mà hệ thống tư pháp đang phải đối mặt trong việc xử lý các vụ án cướp tài sản.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các vấn đề liên quan đến luật hình sự, bạn có thể tham khảo thêm bài viết "Luận án tiến sĩ áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội từ thực tiễn tỉnh bắc ninh", nơi phân tích cách áp dụng hình phạt cho người chưa đủ tuổi thành niên. Ngoài ra, bài viết "Luận văn thạc sĩ luật học thi hành án treo theo luật thi hành án hình sự việt nam trên cơ sở thực tiễn địa bàn thành phố hải phòng" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về án treo và thực tiễn thi hành án. Cuối cùng, bài viết "Luận văn thạc sĩ luật học các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thuộc về nhân thân người phạm tội theo bộ luật hình sự việt nam năm 2015 trên cơ sở thực tiễn xét xử tại tỉnh đắk lắk" sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các tình tiết giảm nhẹ trong xét xử hình sự. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về hệ thống pháp luật và thực tiễn xét xử tại Việt Nam.