Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI TUYÊN TRUYỀN CHỐNG NHÀ NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. KHÁI NIỆM TỘI TUYÊN TRUYỀN CHỐNG NHÀ NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC GHI NHẬN TỘI PHẠM NÀY TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm tội tuyên truyền chống Nhà nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khái niệm tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng đã được một số sách, báo pháp lý nước ta đề cập. Trong công trình nghiên cứu pháp lý "Bảo vệ an ninh quốc gia, an ninh quốc tế và các quyền con người bằng pháp luật hình sự", đưa ra định nghĩa pháp lý tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là "bất kỳ hành vi nào (được liệt kê tại Điều luật đã nêu) xâm phạm hoặc đe dọa xâm phạm đến sự vững mạnh của chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa của Việt Nam theo quan điểm của nhà làm luật" [2] hay trong Giáo trình luật hình sự Việt Nam - Tập I - Trường Đại học Luật Hà Nội (2006): Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là hành vi nhằm chống Nhà nước mà tuyên truyền, phỉ báng chính quyền nhân dân, xuyên tạc, tuyên truyền luận điệu chiến tranh tâm lí, phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân, làm ra, tàng trữ, lưu hành các văn hóa phẩm có nội dung chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhằm mục đích chống chính quyền nhân dân [17, tr.
8 Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một trong các tội xâm phạm an ninh quốc gia, cho nên, theo chúng tôi, để có thể đưa ra khái niệm tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trước hết cần làm rõ khái niệm an ninh quốc gia, khái niệm các tội xâm phạm an ninh quốc gia. Nhận thức về "an ninh quốc gia" trong từng thời kỳ, giai đoạn lịch sử không phải lúc nào cũng giống nhau mà nó luôn thay đổi phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội nhất định. Do tính chất của cuộc đấu tranh cách mạng của nước ta ở mỗi thời kỳ có những đặc trưng riêng, cho nên các tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia ở mỗi thời kỳ, được gọi khác nhau. Trong Sắc lệnh số 133-SL ngày 20/11/1953, đó là "các tội phạm xâm hại đến an toàn nhà nước đối nội và đối ngoại"; trong Pháp lệnh trừng trị các tội phản cách mạng ngày 30/10/1967, đó là "các tội phản cách mạng".
Trong Bộ luật Hình sự năm 1985, được gọi là "các tội đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia", còn Bộ luật Hình sự năm 1999, được gọi là "các tội xâm phạm an ninh quốc gia". Trong những năm 70 của thế kỉ XX, thuật ngữ "an ninh quốc gia" đã bắt đầu xuất hiện trong các sách báo nghiệp vụ của ngành Công an và các tác giả cuốn Từ điển nghiệp vụ Công an nhân dân do Bộ Công an xuất bản năm 1977 đã bước đầu đưa ra khái niệm an ninh quốc gia: "An ninh quốc gia là sự yên ổn về chính trị và trật tự xã hội trong phạm vi quản lý một nhà nước, để đảm bảo chống xâm lược và chống mọi hành vi gây rối, phá hoại, lật đổ". Các tác giả của giáo trình quản lý nhà nước, Học viện Hành chính Quốc gia thì cho rằng: "An ninh quốc gia là thể hiện quan hệ chính trị giữa các giai cấp cầm quyền đối với giai cấp khác. an ninh quốc gia gồm hai mặt, hai nội dung: đối nội và đối ngoại".
Một ý kiến khác thì cho rằng: An ninh quốc gia là sự yên ổn về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, đảm bảo vững vàng nền độc lập, chủ quyền toàn vẹn 9 lãnh thổ. An ninh quốc gia bao gồm an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh văn hóa, tư tưởng và an ninh xã hội, trong đó an ninh chính trị là cốt lõi, xuyên suốt và an ninh kinh tế là nền tảng. An ninh quốc gia bao gồm an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh văn hóa [32, tr. Theo khái niệm này, an ninh quốc gia là khái niệm có phạm trù rộng, phản ánh nhiều mặt, nhiều tầng từ kinh tế, chính trị đến văn hóa, xã hội của một quốc gia.
Trong các văn bản pháp luật, thuật ngữ "an ninh quốc gia" xuất hiện chính thức tại Điều 36 Luật Tổ chức tòa án nhân dân ngày 13/07/1982. Tuy nhiên, trước khi Luật An ninh quốc gia năm 2004 ra đời, khái niệm an ninh quốc gia chưa được một văn bản pháp luật nào của Nhà nước ta đề cập, làm rõ. Lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp về an ninh quốc gia, Luật An ninh quốc gia được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, thông qua ngày 03/12/2004, đưa ra định nghĩa pháp lý của khái niệm an ninh quốc gia tại Điều 3: "An ninh quốc gia là sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sự bất khả xâm phạm về độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc". Trong khái niệm này, bộ phận cấu thành thứ nhất: "Sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" và bộ phận cấu thành thứ hai: "Sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc" là hai mặt không thể thiếu của một tổng thể thống nhất là "an ninh quốc gia".
An ninh quốc gia sẽ không được bảo đảm nếu bất cứ một bộ phận cấu thành bị xâm hại. Việc xác định giới hạn các hành vi xâm phạm an ninh quốc gia, tạo cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các biện pháp bảo vệ an ninh quốc gia, đấu tranh, phòng chống các tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia có hiệu quả. 10 Trên cơ sở khái niệm an ninh quốc gia đã được trình bày ở trên và khái niệm tội phạm được quy định tại Điều 8 Bộ luật Hình sự năm 1999 có thể đưa ra định nghĩa pháp lý các tội xâm phạm an ninh quốc gia như sau: Các tội xâm phạm an ninh quốc gia là những hành vi đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp vì mục đích chống chính quyền nhân dân, xâm phạm sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Tiếp theo cần làm rõ khái niệm tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Lý luận chung nhà nước và pháp luật chỉ ra rằng, nhà nước là hiện tượng xã hội rất phức tạp và đa dạng, thuộc kiến trúc thượng tầng, "là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, một bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện các chức năng quản lý đặc biệt nhằm duy trì trật tự xã hội, thực hiện mục đích bảo vệ địa vị của giai cấp thống trị trong xã hội" [48, tr. Trên cơ sở khái niệm này, chúng ta có thể hiểu Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, có bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện chức năng quản lý nhà nước trên mọi mặt đời sống xã hội nhằm duy trì trật tự xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Như vậy, chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa có nghĩa là việc các chủ thể tội phạm tiến hành các hoạt động xâm phạm hoặc đe dọa xâm phạm sự tồn tại và vững mạnh của chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam; cản trở hoạt động bình thường của bộ máy điều hành và quản lý công việc của nhà nước ở các cấp; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, mục đích cuối cùng là tiến tới lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, thành lập chế độ "đa nguyên, đa đảng" ở Việt Nam. 11 Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được hiểu là dùng lời nói (lời lẽ) xấu xa, đả kích chế độ Hiến pháp, các chủ trương chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, tổ chức, cán bộ; bôi nhọ lãnh tụ, cán bộ, công chức nhà nước, lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong việc xây dựng và triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật hoặc những biểu hiện tiêu cực của một bộ phận cán bộ, công chức thoái hóa biến chất để thổi phồng, chụp mũ, đánh đồng và biến chúng thành khuyết điểm chung của Đảng, bộ máy nhà nước làm cho quần chúng mất niềm tin vào chế độ xã hội chủ nghĩa, vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, vào sự quản lý của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam còn bao hàm nội dung đưa ra những luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân. Đó là hoạt động phá hoại tư tưởng của các thế lực thù địch, trong đó chúng sử dụng phương thức tuyên truyền đa dạng, phong phú như: tuyên truyền miệng, tuyên truyền qua các phương tiện thông tin đại chúng, internet. tung tin thất thiệt trong xã hội, gây ra sự nghi ngờ, lo lắng, trong quần chúng nhân dân về sự tồn tại chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam còn có nội dung làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, văn hóa phẩm có nội dung chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; sản xuất, cất giấu, lưu hành sách báo, tranh ảnh, truyền đơn, kịch bản và những văn hóa phẩm khác có nội dung chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một trong mười bốn tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia, được quy định tại Điều 88 Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1999.