Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI SỬ DỤNG MẠNG MÁY TÍNH, MẠNG VIỄN THÔNG, MẠNG INTERNET HOẶC THIẾT BỊ SỐ THỰC HIỆN HÀNH VI CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 1. Khái niệm, ý nghĩa của phòng ngừa tình hình tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản 1. Khái niệm phòng ngừa tình hình tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản 1. Khái niệm về phòng ngừa tình hình tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản Theo GS.TS Võ Khánh Vinh: “Tình hình tội Phạm là một hiện tƣợng xã hội, pháp lý – hình sự đƣợc thay đổi về mặt lịch sử, mang tính giai cấp bao gồm tổng thể thống nhất (hệ thống) các tội phạm thực hiện trong xã hội (quốc gia) nhất định và trong một khoảng thời gian nhất định.
Phòng ngừa tội phạm là mục tiêu cuối cùng của tội phạm học. Tội phạm học nghiên cứu tình hình tội phạm, nguyên nhân, điều kiện của tội phạm, nhân thân ngƣời phạm tội, cơ chế hành vi phạm tội. từ đó phát hiện ra quy luật phát sinh, tồn tại và vận động của tội phạm, tìm ra các biện pháp tác động vào quy luật đó nhằm mục đích cuối cùng là phòng ngừa tội phạm, ngăn ngừa không để tội phạm xảy ra. Theo Tội phạm học Việt Nam một số vấn đề lý luận và thực tiễn của Viện nghiên cứu nhà nƣớc và pháp luật [51, tr.25] thì phòng ngừa tội phạm đƣợc hiểu theo hai nghĩa khác nhau.
Theo nghĩa rộng, phòng ngừa bao hàm toàn bộ những hoạt động nhằm khắc phục loại trừ nguyên nhân và điều kiện của tội phạm và các biện pháp phát hiện, ngăn chặn xử lý các tội phạm đang và đã xảy ra. Còn theo nghĩa hẹp của nó là ngừa không để tội phạm xảy ra, bảo vệ xã hội, Nhà nƣớc và công dân khỏi sự xâm hại của tội phạm.TS Võ Khánh Vinh khẳng định: “Phòng ngừa tình hình tội phạm là hệ thống nhiều mức độ và biện pháp mang tính chất nhà nƣớc, xã hội và nhà nƣớc – xã 8 hội nhằm khắc phục các nguyên nhân và điều kiện của tội phạm hoặc làm vô hiệu hóa (làm yếu; hạn chế) chúng và bằng cách đó làm giảm và dần dần loại bỏ tình hình tội phạm” [53, tr. Nhƣ vậy phòng ngừa tình hình tội phạm nhằm mục đích cuối cùng là loại trừ tình hình tội phạm ra khỏi đời sống xã hội. Do vậy nhà nƣớc cần phải tập trung và quan tâm hơn công tác ph ng ngừa tình hình tội phạm và xem đây là một công tác thƣờng xuyên, liên tục.
Do tội phạm là hiện tƣợng xã hội phức tạp, đa dạng và nhiều cấp độ do vậy công tác phòng ngừa tội phạm chỉ có thể đạt đƣợc hiệu quả khi nó là một quá trình lâu dài, sử dụng nhiều biện pháp với tính chất và mức độ khác nhau. Phòng ngừa tình hình tội phạm là nhiệm vụ của toàn xã hội, bao gồm Nhà nƣớc, các cơ quan đoàn thể, các tổ chức xã hội và mọi công dân. Để thực hiện nhiệm vụ của mình, Nhà nƣớc và xã hội đã sử dụng nhiều loại biện pháp khác nhau với phạm vi, mức độ và tính chất khác nhau trong suốt quá trình lâu dài nhằm khắc phục, hạn chế và loại trừ nguyên nhân, điều kiện của tội phạm để ngăn chặn, hạn chế tiến tới loại bỏ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội. Trên cơ sở nhận thức và tiếp cận về phòng ngừa tình hình tội phạm nhƣ trên, có thể đƣa ra khái niệm về phòng ngừa tình hình tội sử dụng MMT, MVT, mạng internet hoặc TBS thực hiện hành vi CĐTS nhƣ sau: “phòng ngừa tình hình tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản là quá trình tiến hành, sử dụng đồng bộ các biện pháp khác nhau của nhà nước, xã hội nhằm phát hiện ngăn chặn, xóa bỏ các nguyên nhân, điều kiện làm nảy sinh tội phạm này.
Đồng thời, phải phát hiện, ngăn chặn, đẩy lùi và tiến tới xóa bỏ loại tội phạm này ra khỏi đời sống xã hội”. Đặc điểm pháp lý tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản đƣợc quy định tại điều 226b BLHS năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 có đặc điểm pháp lý nhƣ sau: 9 - Chủ thể của tội phạm: là bất kỳ ngƣời nào có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ 16 tuổi trở lên hoặc từ đủ 14 tuổi đến dƣới 16 tuổi trong trƣờng trƣờng hợp phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng (phạm tội thuộc trƣờng hợp khoản 3 và khoản 4 - Điều 226b). - Khách thể của tội phạm: chính là an toàn công cộng, trật tự công cộng, cụ thể ở đây là hoạt động bình thƣờng của MMT, MVT, mạng internet, môi trƣờng giao dịch điện tử, hoạt động thƣơng mại điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn tín dụng, mua bán và thanh toán cổ phiếu qua mạng. Khi xem xét khách thể của tội này cũng cần phải đề cập đến đối tƣợng tác động của tội phạm này.
Đối tƣợng tác động của tội sử dụng MMT, MVT, mạng internet hoặc TBS thực hiện hành vi CĐTS là tài sản. Một điểm cần lƣu ý là việc xác định ngƣời bị hại trong các vụ án sử dụng MMT, MVT, mạng internet hoặc TBS thực hiện hành vi CĐTS không phải là yếu tố bắt buộc để buộc tội đối với ngƣời phạm tội. Vấn đề này đƣợc quy định tại Điều 4, Thông tƣ liên tịch số 10/2012/TTLT-BCA-BQP-BTP-BTTTT-VKSNDTC- TANDTC [11, tr. - Mặt khách quan của tội phạm: Hành vi khách quan: Tội phạm thể hiện ở một trong những dạng hành vi sau nhằm chiếm đoạt tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân: + Sử dụng khoa học công nghệ để trộm cắp thông tin, dữ liệu, mật khẩu của cơ quan, tổ chức, cá nhân dùng thẻ tín dụng, từ đó làm giả thẻ ngân hàng và sử dụng thẻ giả này nhập mật khẩu đã đánh cắp để chiếm đoạt tiền của chủ thẻ tín dụng trái phép, bằng các hình thức trực tiếp rút tiền qua cây ATM hoặc thanh toán khi thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ trên mạng, chuyển tiền qua tài khoản khác, trả tiền đánh bạc, cá độ bóng đá qua mạng.
+ Truy cập bất hợp pháp vào tài khoản là hành vi cố ý vƣợt qua cảnh báo, mã truy cập, tƣờng lửa hoặc sử dụng mã truy cập của ngƣời khác mà không đƣợc sự cho phép của ngƣời đó để truy cập vào tài khoản không phải của mình, sau đó chiếm đoạt tiền của chủ tài khoản. + Lừa đảo trong thƣơng mại điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn tín dụng, mua bán và thanh toán cổ phiếu qua mạng là sử dụng thủ đoạn gian dối, đƣa 10 ra thông tin sai sự thật về một sản phẩm, một vấn đề, lĩnh vực trong thƣơng mại điện tử, kinh doanh tiền tệ huy động vốn tín dụng, mua bán và thanh toán cổ phiếu trên mạng nhằm tạo niềm tin cho ngƣời chủ, ngƣời quản lý tài sản, làm cho họ tƣởng là thật và mua, bán hoặc đầu tƣ vào lĩnh vực đó. + Hành vi gửi tin nhắn lừa trúng thƣởng nhƣng không có giải thƣởng để chiếm đoạt phí dịch vụ tin nhắn; quảng cáo bán hàng trên mạng Internet, mạng viễn thông nhƣng không giao hàng hoặc giao không đúng số lƣợng, chủng loại, chất lƣợng thấp hơn hàng quảng cáo và các hành vi tƣơng tự. + Sử dụng kỹ thuật số nhƣ chụp ảnh, quay Camera hoặc bằng các phƣơng tiện nghe nhìn khác nhƣ điện thoại di động,.
ghi âm, ghi hình về đời tƣ của cá nhân, tổ chức sau đó đƣa lên môi trƣờng mạng Internet để chiếm đoạt tiền, tài sản của cá nhân, tổ chức bị ghi hình, quay hình ảnh,. Về Công cụ, phương tiện: Dấu hiệu bắt buộc trong mặt khách quan của tội phạm này là mọi hành vi khách quan phải hoạt động thông qua môi trƣờng MMT, MVT, mạng Internet hoặc TBS và đối tƣợng phạm tội thƣờng không có sự tiếp xúc trực tiếp với ngƣời bị hại. Nếu những hành vi khách quan tƣơng tự nhƣng không sử dụng thông qua môi trƣờng trên hoặc thông qua môi trƣờng trên xong đối tƣợng phạm tội tiếp xúc trực tiếp với ngƣời bị hại thì không phạm tội này hoặc cấu thành tội phạm khác. Đây là điểm khác biệt trong hành vi khách quan giữa loại tội phạm này với các tội phạm xâm phạm sở hữu khác.
Về Hậu quả : Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành cơ bản của tội phạm này. Tuy nhiên, hậu quả, thiệt hại lại là tình tiết định khung hình phạt. gây hậu quả nghiêm trọng là gây thiệu hại về vật chất có giá trị từ năm mƣơi triệu đồng đến dƣới năm trăm triệu đồng; gây hậu quả rất nghiêm trọng là gây thiệt hại về vật chất có giá trị từ năm trăm triệu đồng đến dƣới một tỷ đồng; gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng là gây thiệt hại về vật chất có giá trị từ một tỷ đồng trở lên. Khi áp dụng các tình tiết gây hậu quả nhƣ trên cần chú ý: hậu quả phải do hành vi phạm tội gây ra (có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội và hậu quả đó).
Việc xác định hậu quả là thiệt hại về tài sản để coi là yếu tố định khung hình phạt không 11 đƣợc căn cứ vào giá trị tài sản bị chiếm đoạt, vì giá trị tài sản này đã đƣợc quy định thành tình tiết định khung riêng biệt, hậu quả phải là thiệt hại về tài sản xảy ra ngoài giá trị tài sản bị chiếm đoạt. - Mặt chủ quan của tội phạm: Mục đích của ngƣời phạm tội là nhằm chiếm đoạt tài sản, sử dụng MMT, MVT, mạng internet và TBS nhƣ là công cụ phạm tội. Lỗi của ngƣời phạm tội là lỗi cố ý; động cơ mục đích là vụ lợi (nhằm CĐTS).