CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI PHẠM SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ CAO 1. Khái niệm phòng ngừa tình hình tội phạm sử dụng công nghệ cao 1. Khái niệm tội phạm sử dụng công nghệ cao Hiện có nhiều khái niệm bàn về đến tội phạm sử dụng CNC như: tội phạm CNC tội phạm máy tính; tội phạm liên quan đến máy tính; tội phạm mạng; tội phạm có sử dụng CNC… Nghiên cứu định nghĩa các khái niêm trên có thể thấy điểm chung trong nội hàm của các khái niệm này đều chỉ các hành vi liên quan đến việc sử dụng máy tính, thiết bị số, khai thác mạng máy tính, mạng viễn thông để gây thiệt hại cho lợi ích của các tổ chức, cá nhân và toàn xã hội. Tại Việt Nam, theo Khoản 1 điều 3 Nghị định số 25/2014/NĐ-CP của Chính phủ ngày 07 tháng 4 năm 2014 quy định: “Tội phạm có sử dụng công nghệ cao là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS có sử dụng công nghệ cao”.
Theo khoản 1 điều 3 của Luật CNC năm 2008 quy định: Công nghệ cao là công nghệ có hàm lượng cao về nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; được tích hợp từ thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại; tạo ra sản phẩm có chất lượng, tính năng vượt trội, giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường; có vai trò quan trọng đối với việc hình thành ngành sản xuất, dịch vụ mới hoặc hiện đại hóa ngành sản xuất, dịch vụ hiện có. Hiện nay theo các chuyên gia về tội phạm học thì tội phạm sử dụng CNC bao gồm hai loại: Thứ nhất là tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông ( quy định từ điểu 285 đến 294 BLHS 2015, sửa đổi, bổ sung 2017). Đây là nhóm tội phạm sử dụng CNC thuần tuý xâm phạm an toàn thông tin. Các hành vi phạm tội thuộc nhóm này tác động trực tiếp đến hệ thống thông tin, làm cản trở, gây rối loạn hoạt động của máy tính, thiết bị số, mạng thông tin, mạng viễn thông.
8 Thứ hai là tội phạm sử dụng máy tính, thiết bị số, mạng máy tính, mạng viễn thông làm công cụ, phương tiện phạm tội. Nhóm tội phạm CNC này gồm các tội phạm được quy định trong BLHS nhưng được thực hiện với phương thức mới, tức sử dụng công nghệ thông tin để thực hiện tội phạm. Các hành vi phạm tội thuộc nhóm này xâm phạm đến trật tự an toàn thông tin ở khía cạnh tác động đến lợi ích của Nhà nước, quyền và các lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân như: quyền sở hữu tài sản, danh dự, nhân phẩm con người, sở hữu trí tuệ, trật tự xã hội. trong quá trình phát triển, khai thác, ứng dụng công nghệ thông tin.
Việc xác định nhóm tội phạm này thuộc tội phạm sử dụng CNC là vì với việc sử dụng công nghệ thông tin, tính chất của hành vi phạm tội đã thay đổi hoàn toàn hoặc về cơ bản đến mức cần coi chúng là những tội phạm mới. Mặt khác, các hành vi này phải có quan hệ mật thiết, khai thác kết quả của các tội phạm thuộc nhóm thuần tuý xâm phạm trật tự an toàn thông tin. Kế thừa những quan điểm đã nghiên cứu và từ những phân tích nêu trên, có thể hiểu: Tội phạm sử dụng CNC là tội phạm sử dụng tri thức, kỹ năng, công cụ, phương tiện công nghệ cao tác động trái pháp luật đến thông tin, dữ liệu, tín hiệu được lưu trữ, xử lý, truyền tải trong hệ thống mạng máy tính, mạng viễn thông, thiết bị số, xâm phạm đến trật tự an toàn thông tin, gây tổn hại lợi ích của Nhà nước, quyền và các lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân. Tội phạm là một thể thống nhất giữa các yếu tố khách quan và chủ quan không tách rời nhau bao gồm khách thể của tội phạm, mặt khách quan của tội phạm, chủ thể của tội phạm, mặt chủ quan của tội phạm.
Do vậy cần phải nhận thức đầy đủ các dấu hiệu đặc trưng cho bốn yếu tố nói trên. Đối với tội phạm sử dụng CNC, cụ thể như sau: - Khách thể của các tội phạm sử dụng CNC Tội phạm sử dụng CNC xâm phạm vào các quy định của Nhà nước trên lĩnh vực trật tự an toàn thông tin, mạng viễn thông. - Khách quan của tội phạm sử dụng CNC Tội phạm sử dụng CNC là những hành vi được xác định là tội phạm theo quy 9 định của BLHS. Một hành vi chỉ được coi là tội phạm khi hành vi đó được quy định trong BLHS.
Vì vậy, khi xem xét một hành vi xâm phạm đến trật tự an toàn thông tin, mạng viễn thông gây tổn hại cho xã hội có phải là tội phạm sử dụng CNC phải xem hành vi đó có được quy định trong BLHS hay không. Các hành vi phạm tội thuộc nhóm các tội phạm sử dụng CNC đều được thực hiện bằng hành động. Hậu quả mà những hành vi đó gây ra, trước hết là những thiệt hại đến trật tự an toàn thông tin, mạng viễn thông. Ngoài ra còn có thể gây thiệt hại về tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác của Nhà nước, tổ chức và công dân.
- Chủ thể của tội phạm sử dụng CNC Về chủ thể, tội phạm sử dụng CNC có thể được thực hiện bằng bất kỳ ai có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo quy định của BLHS. Tuy nhiên, xuất phát từ tính chất của hành vi phạm tội, chủ thể trực tiếp thực hiện tội phạm sử dụng CNC phải là những người có tri thức và kỹ năng cần thiết để trực tiếp khai thác, sử dụng thiết bị, công cụ, phương tiện công nghệ hoặc trực tiếp phát triển, ứng dụng công nghệ. - Mặt chủ quan của tội phạm sử dụng CNC Tội phạm sử dụng CNC được thực hiện bởi lỗi cố ý. Khi thực hiện tội phạm sử dụng CNC, người phạm tội buộc phải ý thức rõ hành vi của mình là trái quy định pháp luật, có thể gây hậu quả xấu cho các tổ chức, cá nhân có liên quan nhưng vẫn thực hiện, mong muốn hoặc để mặc cho những hậu quả xấu xảy ra.
Khái niệm tình hình tội phạm sử dụng công nghệ cao dưới góc độ tội phạm học Tình hình tội phạm sử dụng CNC là một thuộc tính của xã hội tái sản xuất ra các hành vi nguy hiểm đối với con người, xã hội và Nhà nước, là một hiện tượng pháp luật – xã hội, được thay đổi về mặt lịch sử, tiêu cực, phổ biến, bao gồm tổng thể các tội phạm sử dụng CNC được thực hiện ở một không gian và thời gian nhất định, được đặc trưng bởi các chỉ số về lượng và chất. Tội phạm học khẳng định “Tình hình tội phạm là một hiện tượng xã hội, pháp lý – hình sự được thay đổi về mặt lịch sử, mang tính giai cấp bao gồm tổng thể thống nhất (hệ thống) các tội phạm thực hiện 10 trong một xã hội (quốc gia) nhất định trong một thời gian nhất định” Khi các tội phạm sử dụng CNC xảy ra ở một địa bàn nhất định, trong một thời gian nhất định, thì tội phạm học nhìn nhận đó là tình hình tội phạm sử dụng CNC, tức là một hiện tượng xã hội tiêu cực phản ánh quy luật của sự phạm tội thông qua những bản chất nhất định. Tình hình tội phạm sử dụng CNC là rường hợp cụ thể của tình hình tội phạm nói chung, do đó cũng có những dấu hiệu, các thuộc tính của tình hình tội phạm. Vì vậy tình hình tội phạm sử dụng CNC trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn từ 2014-2018 phải được biểu hiện ở tổng thể tội phạm sử dụng CNC đã được thực hiện trên địa bàn tỉnh trong khoảng thời gian từ năm 2014 đến năm 2018.
Định nghĩa khái niệm phòng ngừa tình hình tội phạm sử dụng CNC Quan điểm chung trong đấu tranh chống tội phạm là tiến hành theo phương châm nhanh chóng và kịp thời phát hiện tội phạm, không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, tránh làm oan người vô tội, trừng trị và giáo dục, cải tạo người phạm tội, hình thành thói quen phản ứng tích cực và hưởng ứng của Nhà nước và xã hội đối với tội phạm. Vì vậy, phòng ngừa tội phạm chính là một trong những nội dung quan trọng và chiếm một vị trí đặc biệt của lý luận về tội phạm học. Nghiên cứu về phòng ngừa tội phạm chính là nghiên cứu cơ sở, nền tảng và xuất phát điểm để nghiên cứu các nội dung khác trong lý luận về tội phạm học. Bàn đến đến khái niệm phòng ngừa tình hình tội phạm, hiện nay ở Việt Nam có hai xu hướng chính: xu hướng thứ nhất cho rằng rằng phòng ngừa tình hình tội phạm bao gồm cả hoạt động phòng và chống tội phạm; xu hướng thứ hai cho rằng phòng ngừa chỉ bao gồm hoạt động tác động vào nguyên nhân và điều kiện của tội phạm nhằm ngăn ngừa trước không cho tội phạm xảy ra.
Tuy có nhiều quan điểm khác nhau về phòng ngừa tình hình tội phạm, nhưng xét cho cùng thì phòng ngừa tình hình tội phạm trước hết phải làm sáng tỏ nguyên nhân và điều kiện dẫn đến tình hình tội phạm, từ đó áp dụng các biện pháp nhằm xóa bỏ nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm, xóa bỏ nguồn gốc phát sinh tội phạm. Đồng thời tiến hành quản lý, giáo dục đối với những người có điều 11 kiện, khả năng phạm tội nhằm không để họ tiếp tục thực hiện tội phạm, ngăn chặn, hạn chế, làm yếu, làm giảm hoặc xóa bỏ tình hình tội phạm ra khỏi đời sống xã hội. Do đó, Nhà nước cần quan tâm đến công tác phòng ngừa tình hình tội phạm nói chung và phòng ngừa tình hình tội phạm sử dụng CNC nói riêng, xem đây là hoạt động thường xuyên, có sự bảo đảm về vật chất cũng như các phương tiện pháp luật, giáo dục, đạo đức khác. Phòng ngừa tình hình tội phạm sử dụng CNC là hoạt động phòng ngừa đối với nhóm tội phạm cụ thể, vì vậy phòng ngừa tình hình tội phạm sử dụng công nghệ cao vừa có những đặc trưng riêng nhưng không tác rời phòng ngừa tình hình tội phạm.