Dạy Học Định Hướng Phát Triển Năng Lực Sáng Tạo Kỹ Thuật Cho Sinh Viên Sư Phạm

Khám phá phương pháp dạy học định hướng phát triển năng lực sáng tạo kỹ thuật cho sinh viên sư phạm kỹ thuật, nâng cao kỹ năng và tư duy sáng tạo.

Chuyên ngành

Sư Phạm Kĩ Thuật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

214
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DẠY HỌC ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO KĨ THUẬT

1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ DẠY HỌC ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO KĨ THUẬT

1.2. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN

1.3. DẠY HỌC KĨ THUẬT ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO KĨ THUẬT CHO SINH VIÊN

1.4. THỰC TRẠNG DẠY HỌC KĨ THUẬT ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO KĨ THUẬT TRONG MỘT SỐ TRƢỜNG ĐẠI HỌC CÓ ĐÀO TẠO NGÀNH SƢ PHẠM KĨ THUẬT

1.5. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: DẠY HỌC KĨ THUẬT ĐIỆN TỬ CHO SINH VIÊN SƢ PHẠM KĨ THUẬT ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO KĨ THUẬT

2.1. ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG KIẾN THỨC VÀ QUÁ TRÌNH DẠY HỌC CÁC HỌC PHẦN KĨ THUẬT ĐIỆN TỬ

2.2. MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC KĨ THUẬT ĐIỆN TỬ ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO KĨ THUẬT CHO SINH VIÊN

2.3. TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC KĨ THUẬT ĐIỆN TỬ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO KĨ THUẬT CHO SINH VIÊN

2.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: KIỂM NGHIỆM VÀ ĐÁNH GIÁ

3.1. MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ, PHƢƠNG PHÁP VÀ ĐỐI TƢỢNG KIỂM NGHIỆM

3.2. KIỂM NGHIỆM ĐÁNH GIÁ BẰNG PHƢƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM

3.3. KIỂM NGHIỆM ĐÁNH GIÁ BẰNG PHƢƠNG PHÁP CHUYÊN GIA

3.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

KẾT LUẬN CHUNG VÀ KHUYẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Phát Triển Năng Lực Sáng Tạo Kỹ Thuật Cho Sinh Viên Sư Phạm

Phát triển năng lực sáng tạo cho sinh viên sư phạm là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong giáo dục hiện đại. Trong bối cảnh đổi mới phương pháp dạy học, việc trang bị cho sinh viên những kỹ năng sáng tạo không chỉ giúp họ tự tin hơn trong giảng dạy mà còn đáp ứng nhu cầu của xã hội. Nghiên cứu này sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về tầm quan trọng của việc phát triển năng lực sáng tạo kỹ thuật cho sinh viên sư phạm.

1.1. Tầm Quan Trọng Của Năng Lực Sáng Tạo Trong Giáo Dục

Năng lực sáng tạo không chỉ giúp sinh viên giải quyết vấn đề mà còn thúc đẩy sự phát triển cá nhân. Việc phát triển năng lực sáng tạo cho sinh viên sư phạm là cần thiết để họ có thể đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động.

1.2. Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Năng Lực Sáng Tạo

Nhiều yếu tố như môi trường học tập, phương pháp giảng dạy và sự hỗ trợ từ giảng viên có thể ảnh hưởng đến năng lực sáng tạo của sinh viên. Việc nhận diện và cải thiện những yếu tố này là rất quan trọng.

II. Những Thách Thức Trong Phát Triển Năng Lực Sáng Tạo Kỹ Thuật

Mặc dù có nhiều lợi ích, việc phát triển năng lực sáng tạo kỹ thuật cho sinh viên sư phạm cũng gặp phải nhiều thách thức. Những thách thức này có thể đến từ cả phía sinh viên và hệ thống giáo dục.

2.1. Khó Khăn Trong Việc Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học

Nhiều giảng viên vẫn còn sử dụng phương pháp giảng dạy truyền thống, điều này hạn chế khả năng phát triển năng lực sáng tạo của sinh viên. Cần có sự thay đổi trong cách tiếp cận giảng dạy.

2.2. Thiếu Tài Nguyên Hỗ Trợ

Nhiều trường đại học thiếu các tài nguyên cần thiết để hỗ trợ sinh viên trong việc phát triển năng lực sáng tạo kỹ thuật. Việc đầu tư vào cơ sở vật chất và tài liệu học tập là rất cần thiết.

III. Phương Pháp Dạy Học Định Hướng Phát Triển Năng Lực Sáng Tạo

Để phát triển năng lực sáng tạo kỹ thuật cho sinh viên, cần áp dụng các phương pháp dạy học hiện đại. Những phương pháp này không chỉ giúp sinh viên tiếp thu kiến thức mà còn khuyến khích họ tư duy sáng tạo.

3.1. Dạy Học Theo Dự Án

Phương pháp dạy học theo dự án giúp sinh viên áp dụng kiến thức vào thực tiễn, từ đó phát triển năng lực sáng tạo. Sinh viên sẽ được khuyến khích làm việc nhóm và giải quyết vấn đề thực tế.

3.2. Khuyến Khích Tư Duy Độc Lập

Giảng viên cần tạo điều kiện cho sinh viên tự do tư duy và khám phá. Việc khuyến khích tư duy độc lập sẽ giúp sinh viên phát triển năng lực sáng tạo kỹ thuật một cách tự nhiên.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Năng Lực Sáng Tạo Kỹ Thuật

Việc phát triển năng lực sáng tạo kỹ thuật không chỉ có ý nghĩa trong học tập mà còn trong thực tiễn nghề nghiệp. Sinh viên có thể áp dụng những gì đã học vào công việc sau này.

4.1. Tạo Ra Sản Phẩm Mới

Sinh viên có thể áp dụng năng lực sáng tạo để phát triển các sản phẩm mới trong lĩnh vực kỹ thuật. Điều này không chỉ giúp họ nổi bật trong công việc mà còn đóng góp cho xã hội.

4.2. Giải Quyết Vấn Đề Thực Tế

Năng lực sáng tạo giúp sinh viên có khả năng giải quyết các vấn đề thực tế trong công việc. Họ sẽ trở thành những giáo viên có khả năng ứng dụng kiến thức vào thực tiễn.

V. Kết Luận Về Phát Triển Năng Lực Sáng Tạo Kỹ Thuật

Phát triển năng lực sáng tạo kỹ thuật cho sinh viên sư phạm là một nhiệm vụ quan trọng và cần thiết. Cần có sự phối hợp giữa các giảng viên, sinh viên và nhà trường để đạt được mục tiêu này.

5.1. Tương Lai Của Năng Lực Sáng Tạo Trong Giáo Dục

Trong tương lai, việc phát triển năng lực sáng tạo sẽ trở thành một phần không thể thiếu trong chương trình đào tạo. Điều này sẽ giúp sinh viên sẵn sàng hơn cho thị trường lao động.

5.2. Đề Xuất Chính Sách Hỗ Trợ

Cần có các chính sách hỗ trợ từ phía nhà nước và các cơ sở giáo dục để phát triển năng lực sáng tạo kỹ thuật cho sinh viên. Điều này sẽ tạo ra một môi trường học tập tốt hơn.

09/07/2025
Dạy học định hướng phát triển năng lực sáng tạo kĩ thuật cho sinh viên sư phạm kĩ thuật

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu - Diễn biến- Kết thúc, bất kì ngƣời nào cũng có 7 tiềm năng sáng tạo nhƣng chỉ khác nhau về mức độ, khi có điều kiện thuận lợi thì tiềm năng ấy sẽ đƣợc bộc lộ phát triển. Tiếp đó, mô hình “Lí thuyết thành tố sáng tạo” của Amabile T. Nghiên cứu về nhân cách của con người sáng tạo, những nghiên cứu và thực nghiệm của nhiều tác giả đã tìm ra các chứng cứ khẳng định TDST có gắn bó mật thiết với những phẩm chất nhân cách của mỗi ngƣời nhƣ các công trình của: Dacey J. Nhƣ vậy, dạy học muốn phát triển NLST cho ngƣời học thì cần khơi gợi, hình thành nhân cách sáng tạo cho ngƣời học.

Nghiên cứu về các thuộc tính, dấu hiệu đặc trưng của sáng tạo, cũng có rất nhiều quan điểm khác nhau của các tác giả Torrance E. Tổng hợp các kết quả cho thấy có sự thống nhất thuộc tính mới và tính giá trị đƣợc coi là quan trọng nhất trong biểu đạt sáng tạo. Vào những năm 70 của thế kỉ XX, các nƣớc xã hội chủ nghĩa đặc biệt Liên Xô (cũ) cũng đạt đƣợc nhiều kết quả trong những công trình nghiên cứu về bản chất, quá trình sáng tạo, TDST, nhân cách sáng tạo. Trong đó phải kể đến một số công trình tiêu biểu của các tác giả Alshuller, Rubinxtein X.

Altshuller là một trong những ngƣời đi tiên phong trong lĩnh vực khoa học sáng tạo kĩ thuật. Ông đã đề ra “Lí thuyết giải bài toán sáng chế (TRIZ)” thay thế cho phƣơng pháp thử sai. Các nhà nghiên cứu phƣơng tây 8 đã tiếp nhận và nghiên cứu chuyên sâu về lí thuyết TRIZ do nhận ra nó có nhiều ƣu điểm hơn so với các lí thuyết khác đã biết. TRIZ sau này phát triển thành một trƣờng phái trên toàn thế giới chuyên nghiên cứu về các thuật giải trong lĩnh vực sáng tạo.

Một số công trình nghiên cứu đã vận dụng lí thuyết giải bài toán sáng chế TRIZ vào nâng cao kỹ năng TDST, giải quyết vấn đề sáng tạo cho con ngƣời trong lĩnh vực kĩ thuật [64], [67]. Có nhiều công trình nghiên cứu đo lƣờng về sáng tạo đã đƣa ra các bộ trắc nghiệm giúp so sánh khả năng sáng tạo của con ngƣời, nhƣ “Bộ trắc nghiệm tư duy sáng tạo Torrance- TTCT” của Torrance E. P, “Bộ trắc nghiệm TSD-Z” của Klaus K. Nghiên cứu ở Việt Nam Những hoạt động liên quan đến khoa học về lĩnh vực sáng tạo, sáng tạo kĩ thuật ở Việt Nam mới thật sự bắt đầu từ thập kỉ 70 của thế kỷ XX.

Các công trình đã đi sâu vào những vấn đề lí luận của sáng tạo, phát triển khả năng sáng tạo cho con ngƣời Việt Nam với nhiều góc độ khác nhau. Nghiên cứu một số vấn đề cơ bản của sáng tạo, nhiều công trình đã đề cập đến bản chất, cấu trúc tâm lí, cơ chế và các phƣơng pháp sáng tạo, môi trƣờng của sáng tạo nói chung. Trong đó phải kể đến những nghiên cứu của tác giả Đức Uy (1999) (“Tâm lí học sáng tạo”, NXB Giáo dục) [58], Phạm Thanh Nghị (2012) (“Tâm lí học sáng tạo”, NXB Đại học quốc gia Hà Nội) [35] đã phân tích bản chất của sáng tạo, cấu trúc, cơ chế và các phƣơng pháp sáng tạo, môi trƣờng của sáng tạo nói chung. Nghiên cứu về phát triển TDST, một số công trình tập trung nghiên cứu đặc điểm, mức độ phát triển và những yếu tố ảnh hƣởng đến phát triển TDST cho ngƣời học nhƣ của tác giả Đặng Thị Vân (2011) (luận án tâm lí học “Biểu hiện sáng tạo trong học tập của SV trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội” 9 Học viện Khoa học Xã hội) [59], Bùi Tuấn Anh (2012) (luận án tâm lí học “Cơ sở tâm lí học của phát triển TDST ở học viên sĩ quan trong nhà trường quân đội” Học viện Chính trị)[1].

Nghiên cứu về đo lường sáng tạo và TDST, các nghiên cứu còn khá khiêm tốn, chủ yếu sử dụng các trắc nghiệm sáng tạo của nƣớc ngoài đã đƣợc Việt hóa để đánh giá mức độ sáng tạo cho ngƣời học và ngƣời lao động. Tiêu biểu nhƣ công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Huy Tú (2007) (“Bộ trắc nghiệm sáng tạo - TSD - Z của Klaus K.Urban với những ứng dụng ở nước ngoài và Việt Nam”, NXB Đại học QGHN) [53], Nguyễn Công Khanh (chủ nhiệm đề tài QCL0604) nghiên cứu chỉ số sáng tạo của SV. Nghiên cứu về sáng tạo kĩ thuật, một số công trình đã nghiên cứu bản chất hoạt động sáng tạo kĩ thuật, cách thức để kích thích khả năng sáng tạo kĩ thuật cho con ngƣời Việt Nam. Trong đó phải kể bộ sách “Sáng tạo và đổi mới” của Phan Dũng (2010) [6], [7], [8], [9], [10] gồm mƣời cuốn sách trình bày hệ thống các phƣơng pháp, quy luật, thủ thuật để sáng tạo và kích thích TDST cho con ngƣời, phân tích một số ví dụ trong lĩnh vực kĩ thuật và kinh doanh.

Tuy nhiên cuốn sách chƣa đề cập đến vấn đề phát triển NLST cho ngƣời học thông qua áp dụng phƣơng pháp luận sáng tạo khoa học kĩ thuật. Sáng tạo kĩ thuật cũng đƣợc đề cập đến trong một vài nghiên cứu của tác giả Phạm Thành Nghị (2012) [35], Nguyễn Trọng Khanh (2011) [26], Ngô Văn Hoan (2013) [19] nhƣng mới dừng ở khái niệm cơ bản, chƣa nghiên cứu sâu về dạy học để phát triển khả năng sáng tạo kĩ thuật cho ngƣời học. Các khái niệm, bản chất, phƣơng pháp và môi trƣờng sáng tạo đƣợc phân tích và bàn luận nhiều trên các phƣơng diện khác nhau. Kết quả phân tích những nghiên cứu trong nƣớc và nƣớc ngoài cho thấy những nghiên cứu về sáng tạo, sáng tạo kĩ thuật khá đầy đủ, đây là cơ sở để nghiên cứu vận dụng vào quá trình dạy học định hƣớng phát triển NLSTKT cho ngƣời học.

Tổng quan nghiên cứu về dạy học định hƣớng phát triển năng lực sáng tạo, sáng tạo kĩ thuật 1. Nghiên cứu ở nước ngoài Năng lực con ngƣời đƣợc nghiên cứu từ rất sớm của nhiều khoa học nhƣ triết học, tâm lí học, sinh lí học, lí luận dạy học. Trong giáo dục nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu cách thức phát triển NLST cho ngƣời học. Một số nhà nghiên cứu cố gắng phát triển tiếp cận cấu trúc để tăng cƣờng khả năng sáng tạo của con ngƣời nhƣ phƣơng pháp tập kích não “brainstorming” của A.Osborn, sáu chiếc mũ tƣ duy “Six Thinking Hats” của Edward de Bono.

Vào những năm 70 của thế kỷ XX, các nhà Giáo dục học Xô Viết bắt đầu quan tâm và đề cập đến rèn luyện TDST cho HS. Các công trình nghiên cứu của tác giả: I.Ôkon đã phân tích vai trò của dạy học nêu vấn đề trong việc phát triển NLST của học sinh. Ngày nay NLST đƣợc xác định là một trong những năng lực cơ bản của công dân thế kỉ XXI. Để phát triển NLST trong lĩnh vực khoa học kĩ thuật cần tập trung vào trọng tâm phát triển TDST, kiến thức kĩ thuật- công nghệ hiện đại và các kĩ năng sáng tạo kĩ thuật.

Nhiều quốc gia chú trọng phát triển các khóa học phát triển kĩ năng sáng tạo kĩ thuật cho ngƣời học liên quan đến các lĩnh vực sáng tạo [65], [70]. Nghiên cứu ở Việt Nam Ở Việt Nam, vào cuối thế kỉ XX và đầu thế kỉ XXI có một số công trình, đề tài lí luận và thực tiễn nghiên cứu nâng cao NLST và đổi mới phƣơng pháp dạy học định hƣớng phát triển NLST cho ngƣời học. Trong lĩnh vực triết học, một số đề tài nghiên cứu về bản chất sáng tạo, bản chất NLST và xác định phƣơng hƣớng chung để nâng cao NLST cho con ngƣời, nhƣ luận án Tiến sĩ triết học của Trần Việt Dũng (2015) (“Sáng tạo và việc nâng cao năng lực sáng tạo của sinh viên trường đại học Hàng hải Việt 11 Nam hiện nay” Trƣờng ĐH KH Xã hội và Nhân văn – ĐHQG Hà Nội) [11]. Trong lĩnh vực lí luận dạy học đã có một số đề tài nghiên cứu khoa học, sách giáo trình, bài báo, luận án về lĩnh vực đổi mới phƣơng pháp dạy học để phát triển TDST và NLST cho ngƣời học thông qua môn học cụ thể.

Dạy học phát triển NLST cho học sinh đƣợc nghiên cứu thông qua một số môn học cụ thể, nhƣ ở môn Toán (luận án của Nguyễn Quang Hòe (2011) “Những chuẩn bị cần thiết cho sinh viên sư phạm để dạy học toán nhằm bồi dưỡng NLST cho học sinh trung học cơ sở”)[21], môn Vật lí (luận án của Ngô Thị Bích Thảo(2003) “Rèn luyện NLST cho học sinh trong dạy học phần Cơ học lớp 8 trung học cơ sở”) [45]. Một số cuốn sách nghiên cứu vấn đề chung về dạy học phát triển NLST cho học sinh, tiêu chí đánh giá giờ dạy phát triển NLST và hƣớng dẫn ở một số môn học cụ thể, nhƣ “Giáo dục phát triển NLST” của Trần Thị Bích Liễu (2013) [29], “Dạy học ph t triển NLST cho HS phổ th ng Lí thuyết và Thực hành” (2016) [30] và “Ph t triển NLST cho HS phổ th ng qua một số m n học cụ thể” (2017) [31] do Trần Thị Bích Liễu (Chủ biên). Một số nghiên cứu sinh tập trung làm sáng tỏ cơ sở lí luận, thực tiễn về phát triển NLST cho SV và đề xuất các biện pháp dạy học phát triển NLST thông qua các môn khoa học cơ bản nhƣ luận án của Nguyễn Thị Hồng Gấm (2012) “Phát triển NLST cho SV thông qua dạy học phần Hóa vô cơ và Lí luận - Phương pháp dạy học hóa học ở trường Cao đẳng sư phạm” [16] thông qua môn Hóa học cho SV cao đẳng sƣ phạm, hoặc luận án của Đinh Thị Hồng Minh (2013) “Phát triển năng lực độc lập sáng tạo của SV đại học kĩ thuật” [33] thông qua môn Hóa học hữu cơ cho SV kĩ thuật ngành Hóa và Dƣợc. Kết quả phân tích cho thấy các nghiên cứu trong và ngoài nƣớc đã tập trung vào các vấn đề liên quan đến phát triển NLST, xem xét các phƣơng 12 pháp, biện pháp dạy học phát triển NLST cho ngƣời học.

Ở Việt Nam một số nghiên cứu đã làm sáng tỏ cơ sở lí luận, thực tiễn về phát triển NLST cho ngƣời học nhƣng chủ yếu tập trung vào các môn khoa học cơ bản nhƣ Hóa học, Vật lí, Toán. Đến nay chƣa có đề tài nghiên cứu một cách hệ thống về dạy học kĩ thuật phát triển NLSTKT cho SV, đặc biệt cho đối tƣợng SV ngành Sƣ phạm kĩ thuât. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1. Kĩ thuật Thuật ngữ kĩ thuật đã có từ thời Hy Lạp cổ đại với ý nghĩa là công cụ và phƣơng pháp lao động.

Hiện nay cũng có nhiều cách định nghĩa khác nhau về thuật ngữ này.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Phát Triển Năng Lực Sáng Tạo Kỹ Thuật Cho Sinh Viên Sư Phạm" tập trung vào việc nâng cao khả năng sáng tạo trong giảng dạy cho sinh viên ngành sư phạm. Tài liệu này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển kỹ năng sáng tạo không chỉ giúp sinh viên trở thành những giáo viên hiệu quả mà còn góp phần vào việc cải thiện chất lượng giáo dục. Các phương pháp và chiến lược được đề xuất trong tài liệu sẽ giúp sinh viên áp dụng kiến thức lý thuyết vào thực tiễn, từ đó tạo ra những bài giảng hấp dẫn và sáng tạo hơn.

Để mở rộng thêm kiến thức về các phương pháp giảng dạy và quản lý giáo dục, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở các trường trung học cơ sở huyện hoằng hoá tỉnh thanh hoá theo hướng chuyển đổi số, nơi bạn sẽ tìm thấy những ứng dụng công nghệ trong giảng dạy. Bên cạnh đó, tài liệu Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục ảnh hưởng của phương pháp dạy học theo vấn đề đến kiến thức khái niệm của học sinh về chủ đề phân tích sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về ảnh hưởng của các phương pháp dạy học đến sự phát triển kiến thức của học sinh. Cuối cùng, bạn cũng có thể tham khảo Sáng kiến vận dụng phương pháp dạy học dự án khi dạy phần giáo dục kinh tế môn giáo dục kinh tế và pháp luật 10 nhằm phát huy năng lực sáng tạo của học sinh ở trường thpt nam đàn 2 để tìm hiểu thêm về cách phát huy năng lực sáng tạo thông qua phương pháp dạy học dự án. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực giáo dục và phát triển năng lực sáng tạo cho sinh viên.