Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC DẠY HỌC MÔN TOÁN BẰNG TIẾNG ANH CHO GIÁO VIÊN TOÁN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Lịch sử nghiên cứu về dạy học môn học bằng ngoại ngữ nói chung, dạy học môn Toán bằng tiếng Anh nói riêng 1. Trên thế giới Dạy học ngoại ngữ chuyên ngành, dạy học song ngữ, dạy học môn Khoa học bằng ngoại ngữ đã có một truyền thống lâu đời tại nhiều quốc gia, dẫn đến việc nghiên cứu về dạy học một hay một số môn học bằng tiếng nước ngoài đã xuất hiện từ khá sớm. Do có sự thâm nhập của người nước ngoài vào các nước sở tại, dẫn đến nhu cầu hiểu và giao tiếp được một số môn Khoa học bằng thứ tiếng thứ hai trở nên cần thiết.
Từ thời Babylon (thiên niên kỷ thứ III trước công nguyên) đến đầu những năm 1960 việc dạy học song ngữ đã được đưa vào rất nhiều trường học trên khắp thế giới. Đến thời Trung cổ đã có tích hợp giữa tiếng Pháp và tiếng Latinh. Đến thời đế quốc thuộc địa đã xuất hiện dạy học môn học thông qua tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Bồ Đào Nha hoặc tiếng Tây Ban Nha. Đến thế kỷ XX xuất hiện một số cộng đồng song ngữ và đa ngữ.
Việc dạy và học một số môn khoa học bằng ngoại ngữ đã được tiến hành ở nhiều nơi trên thế giới thông qua nhiều cách thức khác nhau từ những năm 70 của thế kỷ XX. Chẳng hạn như các lớp học các môn bằng một ngoại ngữ ở Canada trong các trường quốc tế; các chương trình dạy đọc cho trẻ em ở Chiapas, Mexico năm 1973 hay trong dự án Redwood City ở Mỹ năm 1975. Một nửa số các quốc gia ở châu Âu có ngôn ngữ ít phổ biến, thường chọn cách dạy học ngoại ngữ (tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức…) trong các lớp song ngữ. Trong những năm 1970, một hệ thống các trường song ngữ dạy cho các HS chuyên đã được thành lập tại nhiều nước Trung và Đông Âu.
Đến những năm 1990, hệ Luan van 12 thống này đã được mở rộng, đón nhận tất cả các HS không chuyên. Cũng trong khoảng thời gian này, tại châu Âu nổi lên một sự quan tâm lớn tới vấn đề cải cách và tìm ra phương pháp mới cho giáo dục với nhiều hoạch định chính sách được đưa ra. Vào năm 1995, Ủy ban giáo dục của châu Âu cho rằng “nên đặt ra yêu cầu thông thạo hai ngôn ngữ đối với bất kỳ ai muốn hoàn thành quá trình phát triển năng lực cơ bản”. Vào năm 1978, Ủy ban châu Âu nhận được một đề nghị để “khuyến khích việc dạy trong trường thông qua nhiều hơn một ngôn ngữ làm phương tiện” (Marsh, 2002, tr.
Sau đó, vào năm 1983, Quốc hội châu Âu đã thách thức Ủy ban châu Âu “thông qua một chương trình mới có thể cải thiện việc dạy học ngôn ngữ nước ngoài” (Marsh, 2002, tr. 52) [116] Ở Mỹ, việc dạy môn Khoa học bằng tiếng nước ngoài đã được đề xuất. Theo Navés (2008, tr. 3): “Việc tích hợp học nội dung và ngôn ngữ đã trở thành một truyền thống lâu đời với CBI và BE (Bilingual Education Programmes - các chương trình đào tạo song ngữ).
[130] Theo Brinton (1989, tr. 2), CBI có nghĩa là“sự tích hợp của nội dung cụ thể với mục tiêu dạy học của GV ”. Nội dung được sử dụng như một phương tiện để dạy và học các ngoại ngữ phụ. [46] Theo Pokrivčáková (2008, tr.
8): Từ năm 1992 Hà Lan là quốc gia đầu tiên ủng hộ tích cực Hiệp định Maastricht - xây dựng nền giáo dục châu Âu đa ngôn ngữ và song ngữ. Cho đến năm 2007, Hà Lan đã có khoảng 300 trường học song ngữ. Chẳng hạn: + Phương pháp CBLT - Content-based language teaching: phương pháp dạy học ngôn ngữ dựa trên nội dung. + Phương pháp EMI - English as a medium of instruction: phương pháp dạy học với tiếng Anh là công cụ dạy học.
Luan van 13 + Phương pháp FLIP - Foreign language immersion program: phương pháp dạy học theo chương trình song ngữ. + Phương pháp LBCT - Language-based content teaching: phương pháp dạy học nội dung bằng ngoại ngữ. + Phương pháp TFL - Teaching through a foreign language: phương pháp dạy học thông qua ngoại ngữ. Từ những năm 90 của thế kỉ XX, một phương pháp dạy học được quan tâm, áp dụng rộng rãi tại nhiều nước châu Âu là cách tiếp cận CLIL (Content and Language Integrated Learning) - tích hợp nội dung và ngôn ngữ.
Khái niệm CLIL được David Marsh - giảng viên của Đại học Jyvaskyla của Phần Lan - đưa ra lần đầu tiên năm 1994. Dạy học tích hợp nội dung và ngôn ngữ hướng đến việc dùng ngoại ngữ như một phương tiện để truyền đạt nội dung, mang đến sự mới mẻ trong cách học và phát triển cho HS một cách đồng đều cả hai phương diện nội dung và ngôn ngữ. Các nhà giáo dục cho rằng phương pháp giáo dục hai trọng tâm (nội dung và ngôn ngữ) của CLIL sẽ giúp cho HS tăng cường khả năng ngôn ngữ, khả năng tiếp cận nội dung một cách sáng tạo và toàn diện hơn. Từ đó đã có nhiều công trình nghiên cứu về cách tiếp cận CLIL được công bố, nhiều quốc gia đã triển khai việc dạy học các môn khoa học bằng tiếng Anh, trong đó có dạy học MTBTA, theo cách tiếp cận CLIL đã thành công.
45) đã chỉ ra rằng "một trong những xu hướng giáo dục quan trọng nhất trên toàn thế giới là sự giảng dạy của một số lượng ngày càng tăng của các khóa học trong các trường đại học thông qua phương tiện tiếng Anh”. [84] Tuy vậy, còn nhiều tranh luận trái chiều về việc dạy học môn Khoa học bằng tiếng Anh. Trong một nghiên cứu của Ahmad, & Najib Mahmood Rafee (2003) tỉ lệ giữa những người ủng hộ hay không ủng hộ dạy học Toán học và Khoa học bằng tiếng Anh tại Malaysia phụ thuộc vào trình độ, năng lực tiếng Anh của người được hỏi: Với 199 HS có năng lực tiếng Anh không đạt yêu cầu, có 109/90 ≈ 1,211 không Luan van 14 đồng ý dạy học Toán học và Khoa học bằng tiếng Anh. Với 236 HS có năng lực tiếng Anh đạt yêu cầu, có 78/158≈ 0,4937 không đồng ý dạy học Toán học và Khoa học bằng tiếng Anh.
Tỉ suất chênh lệch được tính bằng (109,158) / (90,78) ≈ 1,211/0,4937 ≈ 2,453 cho thấy rằng những HS không đồng ý với việc giảng dạy Toán học và Khoa học bằng tiếng Anh có nhiều khả năng kém tiếng Anh so với những người đồng ý. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng việc sử dụng tiếng Anh để dạy nội dung môn học gặp nhiều những thách thức và khó khăn sư phạm. Marsh, Hau và Kong (2000) đã tiến hành một nghiên cứu thành tích của HS trong khoa học, địa lí và lịch sử bằng tiếng Anh (EMI) và bằng tiếng Trung Quốc (CMI) tại hơn 12000 trường trung học ở Hồng Kông. Họ đi đến kết luận rằng EMI có những ảnh hưởng tích cực đến trình độ tiếng Anh của HS và trở ngại lớn nhất trong quá trình dạy học EMI là trình độ tiếng Anh của GV và HS.
[89] Coyle và những cộng sự (2010, trang 43) cũng nêu rõ: "Thách thức lớn nhất của học tích hợp nội dung và ngôn ngữ là mức độ nhận thức và ngôn ngữ của người học là không giống nhau; nếu đặt yêu cầu về ngôn ngữ quá cao đối với sinh viên thì kết quả học tập nội dung môn học sẽ thấp và ngược lại, để đạt được hiệu quả nội dung môn học thì phải hạ thấp yêu cầu về ngôn ngữ của sinh viên”. [58] Nhiều nhà quản lí trường học và trường đại học trên toàn thế giới bị thu hút bởi ý tưởng thực hiện chính sách CLIL hoặc EMI. Chắc chắn, xu hướng tiếng Anh hóa ngày càng phát triển, bởi nó liên quan trực tiếp đến vấn đề quốc tế hóa và toàn cầu hoá giáo dục đại học (Graddol, 1997). Các nhà hoạch định giáo dục quyết định tin rằng các khóa học môn học bằng tiếng Anh có thể thúc đẩy động lực của sinh viên học tiếng Anh và từ đó cải thiện năng lực ngôn ngữ.
Người ta tin rằng sinh viên sẽ nhận được “hai trong một” - cả nội dung kiến thức và trình độ ngôn ngữ. Dạy học theo cách tiếp cận CLIL được nhiều nhà giáo dục quan tâm và nghiên cứu (Dalton-Puffer and Nikula, 2006 [63]; Dalton- Puffer and Smit, 2007 [64]; Lasagabaster and Zarobe, 2010 [103]). Các nước châu Á, trong đó có Việt Nam, bắt đầu nhận thấy được lợi ích của dạy học theo cách tiếp cận CLIL và hướng đến việc dạy học một số môn học bằng tiếng Anh. Một số nghiên cứu đã chỉ ra châu Á, mà cụ thể là các nước đang phát triển, sẽ có nhiều động lực để phát triển việc dạy học theo cách tiếp cận CLIL nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh và thu hút đầu tư (Lee.
BC and Chang 2008). Ở Indonesia, việc thực hiện CLIL, được gọi là chính sách EMI, đã triển khai từ năm 2006 tại nhiều trường học và đại học. [117] Các quốc gia với những yếu tố khách quan và chủ quan khác nhau cũng đã chọn cách áp dụng khác nhau để dạy học MTBTA theo cách tiếp cận CLIL - tích hợp nội dung và ngôn ngữ. Từ những công trình nêu trên, có thể rút ra một số kết luận sau: Đáp ứng nhu cầu sử dụng tiếng Anh như là ngôn ngữ quốc tế, từ những năm 70 của thế kỷ XX, ngoài việc dạy tiếng Anh như là một ngoại ngữ, việc dạy và học một số môn Khoa học bằng tiếng Anh đã được triển khai ở nhiều nơi trên thế giới, dưới hình thức dạy song ngữ là chủ yếu.
Trong luận án này chúng tôi sẽ tập trung vào việc phát triển năng lực dạy học MTBTA cho GV dựa trên phương pháp tích hợp nội dung và ngôn ngữ (CLIL). Ở Việt Nam Ở Việt Nam, dạy học môn Toán (và một số môn học khác) bằng tiếng Anh đã xuất hiện từ những năm 90 của thế kỷ XX, chủ yếu diễn ra ở một số trường có yếu tố quốc tế dưới hình thức dạy song ngữ cho cấp tiểu học là môn Toán và môn Khoa Luan van 16 học. Chẳng hạn, tại trường tiểu học Chu Văn An - Hà Nội, trường trung học cơ sở Amsterdam - Hà Nội. Từ năm 2005 việc dạy Toán bằng tiếng Anh đã được triển khai thí điểm tại khối chuyên Toán - Tin Trường THPT chuyên Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội và trường chuyên Lê Hồng Phong (thành phố Hồ Chí Minh).