Luận văn thạc sĩ tmu phát triển năng lực dạy học môn toán bằng tiếng anh cho giáo viên toán trung học phổ thông

Luận văn thạc sĩ giáo dục nghiên cứu tmu phát triển năng lực dạy học môn toán bằng tiếng anh cho giáo viên toán trung học phổ thông, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2018

260
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC DẠY HỌC MÔN TOÁN BẰNG TIẾNG ANH CHO GIÁO VIÊN TOÁN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1. Lịch sử nghiên cứu về dạy học môn học bằng ngoại ngữ nói chung, dạy học môn Toán bằng tiếng Anh nói riêng

1.2. Một số cách tiếp cận về dạy học môn Toán bằng tiếng Anh

1.3. Dạy học ngoại ngữ chuyên ngành Toán

1.4. Dạy học song ngữ

1.5. Dạy học tích hợp nội dung và ngôn ngữ

1.6. Các thành phần của CLIL

1.7. Năng lực dạy học môn Toán bằng tiếng Anh

1.7.1. Một số vấn đề chung về năng lực

1.7.2. Năng lực dạy học môn Toán bằng tiếng Anh, các thành tố và tiêu chí đánh giá năng lực dạy Toán bằng tiếng Anh

1.7.3. Một số thực tiễn về việc phát triển năng lực dạy học môn Toán bằng tiếng Anh cho giáo viên Toán Trung học phổ thông

1.7.4. Kinh nghiệm quốc tế về những yếu tố ảnh hưởng đến kết quả dạy học môn Toán bằng tiếng Anh

1.7.5. Khảo sát thực trạng

1.8. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC DẠY HỌC MÔN TOÁN BẰNG TIẾNG ANH THEO HƯỚNG TÍCH HỢP NỘI DUNG VÀ NGÔN NGỮ

2.1. Nhóm biện pháp 1: Nhóm biện pháp phát triển năng lực ngôn ngữ cho giáo viên và phương pháp phát triển năng lực này cho học sinh

2.1.1. Mục đích của nhóm biện pháp 1

2.1.2. Căn cứ của nhóm biện pháp 1

2.1.3. Các biện pháp thành phần

2.2. Nhóm biện pháp 2: Nhóm biện pháp về phát triển nhóm năng lực kiến tạo và tổ chức tiến trình dạy học

2.2.1. Mục đích của nhóm biện pháp 2

2.2.2. Căn cứ của nhóm biện pháp 2

2.2.3. Các biện pháp thành phần

2.3. Nhóm biện pháp 3: Nhóm biện pháp về phát triển năng lực đánh giá kết quả dạy và học môn Toán bằng tiếng Anh

2.3.1. Mục đích của nhóm biện pháp 3

2.3.2. Căn cứ của nhóm biện pháp 3

2.3.3. Các biện pháp thành phần

2.4. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

3.1. Mục đích và tổ chức thực nghiệm sư phạm

3.1.1. Mục đích thực nghiệm sư phạm

3.1.2. Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm

3.1.3. Tổ chức và nội dung thực nghiệm sư phạm

3.1.3.1. Tổ chức và triển khai nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm thứ nhất
3.1.3.2. Tổ chức và nội dung triển khai nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm thứ hai
3.1.3.3. Tổ chức và nội dung triển khai nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm thứ ba

3.1.4. Đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm

3.1.4.1. Kết quả thực hiện nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm thứ nhất
3.1.4.2. Kết quả thực hiện nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm thứ hai
3.1.4.3. Kết quả thực hiện nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm thứ ba

3.2. Tiểu kết chương 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Phát Triển Năng Lực Dạy Học Toán Bằng Tiếng Anh

Phát triển năng lực dạy học môn Toán bằng tiếng Anh cho giáo viên trung học phổ thông là một chủ đề quan trọng trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay. Nhu cầu này không chỉ xuất phát từ yêu cầu của thị trường lao động mà còn từ sự phát triển của giáo dục toàn cầu. Việc dạy học Toán bằng tiếng Anh giúp học sinh tiếp cận kiến thức một cách hiệu quả hơn, đồng thời nâng cao khả năng sử dụng ngôn ngữ trong môi trường học tập. Điều này cũng góp phần vào việc nâng cao chất lượng giáo dục và đáp ứng yêu cầu của xã hội hiện đại.

1.1. Lý Do Cần Phát Triển Năng Lực Dạy Học Toán Bằng Tiếng Anh

Nhu cầu hội nhập quốc tế và sự phát triển của nền kinh tế tri thức đã đặt ra yêu cầu cao đối với giáo viên dạy Toán. Việc phát triển năng lực dạy học môn Toán bằng tiếng Anh không chỉ giúp giáo viên nâng cao trình độ chuyên môn mà còn tạo điều kiện cho học sinh tiếp cận với kiến thức hiện đại.

1.2. Tình Hình Dạy Học Toán Bằng Tiếng Anh Tại Việt Nam

Hiện nay, một số trường trung học phổ thông tại Việt Nam đã triển khai dạy học môn Toán bằng tiếng Anh. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy và đảm bảo giáo viên có đủ năng lực để thực hiện điều này.

II. Thách Thức Trong Việc Dạy Học Toán Bằng Tiếng Anh

Việc dạy học Toán bằng tiếng Anh đối mặt với nhiều thách thức, từ việc giáo viên chưa đủ trình độ ngôn ngữ đến việc học sinh gặp khó khăn trong việc tiếp cận kiến thức. Những thách thức này cần được nhận diện và giải quyết để nâng cao hiệu quả giảng dạy.

2.1. Khó Khăn Về Trình Độ Ngôn Ngữ Của Giáo Viên

Nhiều giáo viên dạy Toán chưa có đủ trình độ tiếng Anh để giảng dạy hiệu quả. Điều này dẫn đến việc giảng dạy không đạt yêu cầu và ảnh hưởng đến chất lượng học tập của học sinh.

2.2. Sự Thiếu Hỗ Trợ Từ Chương Trình Giáo Dục

Chương trình giáo dục hiện tại chưa có đủ tài liệu và phương pháp giảng dạy phù hợp cho việc dạy học Toán bằng tiếng Anh. Điều này gây khó khăn cho giáo viên trong việc thiết kế bài giảng.

III. Phương Pháp Phát Triển Năng Lực Dạy Học Toán Bằng Tiếng Anh

Để phát triển năng lực dạy học môn Toán bằng tiếng Anh, cần áp dụng các phương pháp giảng dạy hiện đại và tích hợp nội dung với ngôn ngữ. Các phương pháp này không chỉ giúp giáo viên nâng cao kỹ năng mà còn tạo ra môi trường học tập tích cực cho học sinh.

3.1. Tích Hợp Nội Dung Và Ngôn Ngữ Trong Giảng Dạy

Phương pháp tích hợp nội dung và ngôn ngữ giúp giáo viên dạy Toán bằng tiếng Anh một cách hiệu quả hơn. Điều này không chỉ giúp học sinh hiểu bài mà còn nâng cao khả năng sử dụng ngôn ngữ trong học tập.

3.2. Đào Tạo Giáo Viên Qua Các Khóa Tập Huấn

Tổ chức các khóa tập huấn cho giáo viên về phương pháp dạy học Toán bằng tiếng Anh là cần thiết. Những khóa học này giúp giáo viên nâng cao trình độ ngôn ngữ và kỹ năng giảng dạy.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Và Kết Quả Nghiên Cứu

Việc áp dụng các phương pháp dạy học mới đã mang lại những kết quả tích cực trong việc phát triển năng lực dạy học Toán bằng tiếng Anh. Nghiên cứu cho thấy học sinh có khả năng tiếp thu kiến thức tốt hơn khi được học trong môi trường tiếng Anh.

4.1. Kết Quả Từ Các Trường Đã Triển Khai

Nhiều trường đã áp dụng thành công phương pháp dạy học Toán bằng tiếng Anh, cho thấy sự tiến bộ rõ rệt trong kết quả học tập của học sinh.

4.2. Những Bài Học Kinh Nghiệm Từ Quốc Tế

Các quốc gia khác đã có những kinh nghiệm quý báu trong việc dạy học Toán bằng tiếng Anh. Những bài học này có thể áp dụng để cải thiện chất lượng giảng dạy tại Việt Nam.

V. Kết Luận Về Tương Lai Của Dạy Học Toán Bằng Tiếng Anh

Tương lai của việc dạy học Toán bằng tiếng Anh tại Việt Nam phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm sự đầu tư vào giáo dục và sự phát triển của đội ngũ giáo viên. Cần có những chính sách hỗ trợ để nâng cao chất lượng giảng dạy và đáp ứng nhu cầu hội nhập.

5.1. Định Hướng Phát Triển Trong Tương Lai

Cần có những định hướng rõ ràng trong việc phát triển năng lực dạy học Toán bằng tiếng Anh, từ đó nâng cao chất lượng giáo dục.

5.2. Vai Trò Của Công Nghệ Trong Dạy Học

Công nghệ sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ giáo viên và học sinh trong quá trình dạy và học Toán bằng tiếng Anh. Việc áp dụng công nghệ sẽ giúp nâng cao hiệu quả giảng dạy.

18/06/2025
Luận văn thạc sĩ tmu phát triển năng lực dạy học môn toán bằng tiếng anh cho giáo viên toán trung học phổ thông

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC DẠY HỌC MÔN TOÁN BẰNG TIẾNG ANH CHO GIÁO VIÊN TOÁN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Lịch sử nghiên cứu về dạy học môn học bằng ngoại ngữ nói chung, dạy học môn Toán bằng tiếng Anh nói riêng 1. Trên thế giới Dạy học ngoại ngữ chuyên ngành, dạy học song ngữ, dạy học môn Khoa học bằng ngoại ngữ đã có một truyền thống lâu đời tại nhiều quốc gia, dẫn đến việc nghiên cứu về dạy học một hay một số môn học bằng tiếng nước ngoài đã xuất hiện từ khá sớm. Do có sự thâm nhập của người nước ngoài vào các nước sở tại, dẫn đến nhu cầu hiểu và giao tiếp được một số môn Khoa học bằng thứ tiếng thứ hai trở nên cần thiết.

Từ thời Babylon (thiên niên kỷ thứ III trước công nguyên) đến đầu những năm 1960 việc dạy học song ngữ đã được đưa vào rất nhiều trường học trên khắp thế giới. Đến thời Trung cổ đã có tích hợp giữa tiếng Pháp và tiếng Latinh. Đến thời đế quốc thuộc địa đã xuất hiện dạy học môn học thông qua tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Bồ Đào Nha hoặc tiếng Tây Ban Nha. Đến thế kỷ XX xuất hiện một số cộng đồng song ngữ và đa ngữ.

Việc dạy và học một số môn khoa học bằng ngoại ngữ đã được tiến hành ở nhiều nơi trên thế giới thông qua nhiều cách thức khác nhau từ những năm 70 của thế kỷ XX. Chẳng hạn như các lớp học các môn bằng một ngoại ngữ ở Canada trong các trường quốc tế; các chương trình dạy đọc cho trẻ em ở Chiapas, Mexico năm 1973 hay trong dự án Redwood City ở Mỹ năm 1975. Một nửa số các quốc gia ở châu Âu có ngôn ngữ ít phổ biến, thường chọn cách dạy học ngoại ngữ (tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức…) trong các lớp song ngữ. Trong những năm 1970, một hệ thống các trường song ngữ dạy cho các HS chuyên đã được thành lập tại nhiều nước Trung và Đông Âu.

Đến những năm 1990, hệ Luan van 12 thống này đã được mở rộng, đón nhận tất cả các HS không chuyên. Cũng trong khoảng thời gian này, tại châu Âu nổi lên một sự quan tâm lớn tới vấn đề cải cách và tìm ra phương pháp mới cho giáo dục với nhiều hoạch định chính sách được đưa ra. Vào năm 1995, Ủy ban giáo dục của châu Âu cho rằng “nên đặt ra yêu cầu thông thạo hai ngôn ngữ đối với bất kỳ ai muốn hoàn thành quá trình phát triển năng lực cơ bản”. Vào năm 1978, Ủy ban châu Âu nhận được một đề nghị để “khuyến khích việc dạy trong trường thông qua nhiều hơn một ngôn ngữ làm phương tiện” (Marsh, 2002, tr.

Sau đó, vào năm 1983, Quốc hội châu Âu đã thách thức Ủy ban châu Âu “thông qua một chương trình mới có thể cải thiện việc dạy học ngôn ngữ nước ngoài” (Marsh, 2002, tr. 52) [116] Ở Mỹ, việc dạy môn Khoa học bằng tiếng nước ngoài đã được đề xuất. Theo Navés (2008, tr. 3): “Việc tích hợp học nội dung và ngôn ngữ đã trở thành một truyền thống lâu đời với CBI và BE (Bilingual Education Programmes - các chương trình đào tạo song ngữ).

[130] Theo Brinton (1989, tr. 2), CBI có nghĩa là“sự tích hợp của nội dung cụ thể với mục tiêu dạy học của GV ”. Nội dung được sử dụng như một phương tiện để dạy và học các ngoại ngữ phụ. [46] Theo Pokrivčáková (2008, tr.

8): Từ năm 1992 Hà Lan là quốc gia đầu tiên ủng hộ tích cực Hiệp định Maastricht - xây dựng nền giáo dục châu Âu đa ngôn ngữ và song ngữ. Cho đến năm 2007, Hà Lan đã có khoảng 300 trường học song ngữ. Chẳng hạn: + Phương pháp CBLT - Content-based language teaching: phương pháp dạy học ngôn ngữ dựa trên nội dung. + Phương pháp EMI - English as a medium of instruction: phương pháp dạy học với tiếng Anh là công cụ dạy học.

Luan van 13 + Phương pháp FLIP - Foreign language immersion program: phương pháp dạy học theo chương trình song ngữ. + Phương pháp LBCT - Language-based content teaching: phương pháp dạy học nội dung bằng ngoại ngữ. + Phương pháp TFL - Teaching through a foreign language: phương pháp dạy học thông qua ngoại ngữ. Từ những năm 90 của thế kỉ XX, một phương pháp dạy học được quan tâm, áp dụng rộng rãi tại nhiều nước châu Âu là cách tiếp cận CLIL (Content and Language Integrated Learning) - tích hợp nội dung và ngôn ngữ.

Khái niệm CLIL được David Marsh - giảng viên của Đại học Jyvaskyla của Phần Lan - đưa ra lần đầu tiên năm 1994. Dạy học tích hợp nội dung và ngôn ngữ hướng đến việc dùng ngoại ngữ như một phương tiện để truyền đạt nội dung, mang đến sự mới mẻ trong cách học và phát triển cho HS một cách đồng đều cả hai phương diện nội dung và ngôn ngữ. Các nhà giáo dục cho rằng phương pháp giáo dục hai trọng tâm (nội dung và ngôn ngữ) của CLIL sẽ giúp cho HS tăng cường khả năng ngôn ngữ, khả năng tiếp cận nội dung một cách sáng tạo và toàn diện hơn. Từ đó đã có nhiều công trình nghiên cứu về cách tiếp cận CLIL được công bố, nhiều quốc gia đã triển khai việc dạy học các môn khoa học bằng tiếng Anh, trong đó có dạy học MTBTA, theo cách tiếp cận CLIL đã thành công.

45) đã chỉ ra rằng "một trong những xu hướng giáo dục quan trọng nhất trên toàn thế giới là sự giảng dạy của một số lượng ngày càng tăng của các khóa học trong các trường đại học thông qua phương tiện tiếng Anh”. [84] Tuy vậy, còn nhiều tranh luận trái chiều về việc dạy học môn Khoa học bằng tiếng Anh. Trong một nghiên cứu của Ahmad, & Najib Mahmood Rafee (2003) tỉ lệ giữa những người ủng hộ hay không ủng hộ dạy học Toán học và Khoa học bằng tiếng Anh tại Malaysia phụ thuộc vào trình độ, năng lực tiếng Anh của người được hỏi: Với 199 HS có năng lực tiếng Anh không đạt yêu cầu, có 109/90 ≈ 1,211 không Luan van 14 đồng ý dạy học Toán học và Khoa học bằng tiếng Anh. Với 236 HS có năng lực tiếng Anh đạt yêu cầu, có 78/158≈ 0,4937 không đồng ý dạy học Toán học và Khoa học bằng tiếng Anh.

Tỉ suất chênh lệch được tính bằng (109,158) / (90,78) ≈ 1,211/0,4937 ≈ 2,453 cho thấy rằng những HS không đồng ý với việc giảng dạy Toán học và Khoa học bằng tiếng Anh có nhiều khả năng kém tiếng Anh so với những người đồng ý. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng việc sử dụng tiếng Anh để dạy nội dung môn học gặp nhiều những thách thức và khó khăn sư phạm. Marsh, Hau và Kong (2000) đã tiến hành một nghiên cứu thành tích của HS trong khoa học, địa lí và lịch sử bằng tiếng Anh (EMI) và bằng tiếng Trung Quốc (CMI) tại hơn 12000 trường trung học ở Hồng Kông. Họ đi đến kết luận rằng EMI có những ảnh hưởng tích cực đến trình độ tiếng Anh của HS và trở ngại lớn nhất trong quá trình dạy học EMI là trình độ tiếng Anh của GV và HS.

[89] Coyle và những cộng sự (2010, trang 43) cũng nêu rõ: "Thách thức lớn nhất của học tích hợp nội dung và ngôn ngữ là mức độ nhận thức và ngôn ngữ của người học là không giống nhau; nếu đặt yêu cầu về ngôn ngữ quá cao đối với sinh viên thì kết quả học tập nội dung môn học sẽ thấp và ngược lại, để đạt được hiệu quả nội dung môn học thì phải hạ thấp yêu cầu về ngôn ngữ của sinh viên”. [58] Nhiều nhà quản lí trường học và trường đại học trên toàn thế giới bị thu hút bởi ý tưởng thực hiện chính sách CLIL hoặc EMI. Chắc chắn, xu hướng tiếng Anh hóa ngày càng phát triển, bởi nó liên quan trực tiếp đến vấn đề quốc tế hóa và toàn cầu hoá giáo dục đại học (Graddol, 1997). Các nhà hoạch định giáo dục quyết định tin rằng các khóa học môn học bằng tiếng Anh có thể thúc đẩy động lực của sinh viên học tiếng Anh và từ đó cải thiện năng lực ngôn ngữ.

Người ta tin rằng sinh viên sẽ nhận được “hai trong một” - cả nội dung kiến thức và trình độ ngôn ngữ. Dạy học theo cách tiếp cận CLIL được nhiều nhà giáo dục quan tâm và nghiên cứu (Dalton-Puffer and Nikula, 2006 [63]; Dalton- Puffer and Smit, 2007 [64]; Lasagabaster and Zarobe, 2010 [103]). Các nước châu Á, trong đó có Việt Nam, bắt đầu nhận thấy được lợi ích của dạy học theo cách tiếp cận CLIL và hướng đến việc dạy học một số môn học bằng tiếng Anh. Một số nghiên cứu đã chỉ ra châu Á, mà cụ thể là các nước đang phát triển, sẽ có nhiều động lực để phát triển việc dạy học theo cách tiếp cận CLIL nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh và thu hút đầu tư (Lee.

BC and Chang 2008). Ở Indonesia, việc thực hiện CLIL, được gọi là chính sách EMI, đã triển khai từ năm 2006 tại nhiều trường học và đại học. [117] Các quốc gia với những yếu tố khách quan và chủ quan khác nhau cũng đã chọn cách áp dụng khác nhau để dạy học MTBTA theo cách tiếp cận CLIL - tích hợp nội dung và ngôn ngữ. Từ những công trình nêu trên, có thể rút ra một số kết luận sau: Đáp ứng nhu cầu sử dụng tiếng Anh như là ngôn ngữ quốc tế, từ những năm 70 của thế kỷ XX, ngoài việc dạy tiếng Anh như là một ngoại ngữ, việc dạy và học một số môn Khoa học bằng tiếng Anh đã được triển khai ở nhiều nơi trên thế giới, dưới hình thức dạy song ngữ là chủ yếu.

Trong luận án này chúng tôi sẽ tập trung vào việc phát triển năng lực dạy học MTBTA cho GV dựa trên phương pháp tích hợp nội dung và ngôn ngữ (CLIL). Ở Việt Nam Ở Việt Nam, dạy học môn Toán (và một số môn học khác) bằng tiếng Anh đã xuất hiện từ những năm 90 của thế kỷ XX, chủ yếu diễn ra ở một số trường có yếu tố quốc tế dưới hình thức dạy song ngữ cho cấp tiểu học là môn Toán và môn Khoa Luan van 16 học. Chẳng hạn, tại trường tiểu học Chu Văn An - Hà Nội, trường trung học cơ sở Amsterdam - Hà Nội. Từ năm 2005 việc dạy Toán bằng tiếng Anh đã được triển khai thí điểm tại khối chuyên Toán - Tin Trường THPT chuyên Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội và trường chuyên Lê Hồng Phong (thành phố Hồ Chí Minh).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Phát Triển Năng Lực Dạy Học Toán Bằng Tiếng Anh Cho Giáo Viên Trung Học Phổ Thông" tập trung vào việc nâng cao khả năng giảng dạy toán học bằng tiếng Anh cho giáo viên trung học phổ thông. Tài liệu này không chỉ cung cấp các phương pháp giảng dạy hiệu quả mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển kỹ năng ngôn ngữ cho giáo viên, giúp họ tự tin hơn trong việc truyền đạt kiến thức toán học. Những lợi ích mà tài liệu mang lại bao gồm cải thiện khả năng giao tiếp, tăng cường sự hiểu biết về ngôn ngữ chuyên ngành và nâng cao chất lượng giảng dạy.

Để mở rộng thêm kiến thức về các phương pháp giảng dạy và phát triển kỹ năng cho học sinh, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận án rèn luyện kĩ năng đọc hiểu truyền thuyết cho học sinh lớp 6, nơi cung cấp các chiến lược giúp học sinh cải thiện kỹ năng đọc hiểu. Ngoài ra, tài liệu Luận án tích hợp phát triển kĩ năng tự nhận thức cho học sinh trong dạy học đọc hiểu vbts ở trung học cơ sở sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cách phát triển kỹ năng tự nhận thức cho học sinh. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ giáo dục học phát triển năng lực suy luận thống kê cho học sinh lớp 10 cũng là một nguồn tài liệu quý giá để nâng cao năng lực tư duy cho học sinh. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về các phương pháp giảng dạy và phát triển năng lực cho học sinh trong môi trường học tập hiện đại.