chương I đề cập đến cốt truyện và bối cảnh. Về cốt truyện, HS được học khái niệm, vai trò của cốt truyện, khái niệm xung đột mẫu thuẫn trong cốt truyện, cùng với những yếu tố cốt lõi làm nên cốt truyện. Sau phần lí luận cơ bản, HS được thực hành bằng cách đọc hiểu văn bản truyện với hệ thống câu hỏi bám sát, làm rõ những vấn đề lí luận cơ bản đã trình bày ở trên để hình thành cho HS các kĩ năng đọc hiểu văn bản tự sự nhằm giải mã ý nghĩa và kiến tạo nghĩa 1 National curriculum in England: English programmes of study, updated 16 July 2014; http://www.au/English/Rationale 14 cho văn bản truyện. Căn cứ vào hệ thống câu hỏi của các bài đọc hiểu VBTS có thể thấy phác thảo cách thức rèn kĩ năng đọc hiểu VBTS cho HS trong bộ sách này gồm: chuẩn bị tâm thế và định hướng đọc hiểu một hoặc một số kĩ năng cụ thể của VBTS (trước khi đọc); sử dụng những kĩ năng cụ thể được xác định ở giai đoạn trước khi đọc vào việc giải mã ý nghĩa của văn bản gồm các chi tiết, sự việc, nhân vật, cốt truyện,…(trong khi đọc); phân tích và phản hồi văn học gồm các yêu cầu kiểm tra đọc chi tiết, lí giải các mức độ hiểu văn bản, nhận xét đánh giá, viết phản hồi (sau khi đọc).
Thứ hai là những hình thức, phương pháp, kĩ thuật dạy học cụ thể giúp HS biết, cách đọc hiểu VBTS. Những tác giả đã nghiên cứu về vấn đề này có thể kể đến Blanchowicz, C.P [168],… Trong công trình nghiên cứu của mình, các tác giả đã đề cập đến những chiến lược hỗ trợ người học tích cực đọc VBTS thông qua hoạt động nhóm nhỏ, hoặc cung cấp cho người đọc những ngữ cảnh có nhiều sự độc lập hơn ở đó họ được phát triển kĩ năng đọc như một thành viên của cộng đồng trao đổi về những tác phẩm truyện đã đọc. Cụ thể là tập trung vào cấu trúc bên trong của truyện, dự đoán trước khi đọc, vẽ trong và sau khi đọc, phản hồi thông qua hoạt động viết nhật kí hoặc trao đổi với các thành viên trong nhóm. Một số kĩ thuật đọc cũng được bàn đến như tự đặt câu hỏi, ghi chép đánh dấu trong khi đọc, hội thảo đọc,… Những kết quả nghiên cứu liên quan đến kĩ năng đọc hiểu văn bản tự sự trong nhà trường phổ thông mà NCS có điều kiện tiếp cận trên đây đã giải quyết khá rõ về vai trò, mối quan hệ giữa những đặc trưng cơ bản của thể loại tự sự và việc ứng dụng nó trong dạy học đọc hiểu văn bản tự sự ở nhà trường phổ thông với những hình thức phương pháp, kĩ thuật cụ thể.
Cách thức rèn luyện kĩ năng đọc hiểu văn bản tự sự được các công trình để cập đến ở những mức độ khác nhau nhưng sẽ là những gợi ý vô cùng đáng quý để NCS có định hướng đúng và học tập cách thức triển khai nhằm hướng đích cuối cùng là góp phần hình thành năng lực đọc hiểu VBTS cho HS. Ở Việt Nam Liên quan đến vấn đề giảng văn các thể loại tự sự trong nhà trường phổ thông, các nhà nghiên cứu giáo dục Việt Nam cũng quan tâm từ khá sớm. Nhóm tác giả Trần Thanh Đạm, Huỳnh Lý, Hoàng Như Mai, Phan Sĩ Tấn, Đàm Gia Cẩn [27] dựa trên đặc điểm của truyện đã chỉ ra ba yêu cầu trong 15 việc hướng dẫn HS cảm thụ truyện có thể tóm tắt như sau: nắm vững sự phát triển của tình tiết, cốt truyện; đánh giá đúng nhân vật; hiểu được những đặc sắc về cách kể. Cho đến những năm 2000 trở đi khi chương trình Ngữ văn chuyển từ yêu cầu giảng văn sang đọc hiểu văn bản thì bắt đầu xuất hiện nhiều nghiên cứu về đọc hiểu và kĩ năng đọc hiểu.
Tác giả Nguyễn Thanh Hùng (2011) trong công trình Kĩ năng đọc hiểu văn [69], đã khái quát hóa mô hình đọc hiểu tác phẩm tự sự gồm hệ thống các kĩ năng đọc hiểu cụ thể như: đọc chính xác, đọc phân tích, đọc sáng tạo, đọc tích lũy. Những kĩ năng này được hướng dẫn chi tiết từ việc hiểu lớp vỏ ngôn từ đến khám phá các tầng ý nghĩa; từ nắm vững cấu trúc hình tượng đến việc lĩnh hội tư tưởng thẩm mĩ. Nhóm tác giả Đỗ Ngọc Thống [131] trong công trình nghiên cứu của mình đã trình bày nội dung dạy học đọc hiểu văn bản truyện. Theo các tác giả, văn bản truyện có những đặc trưng nổi bật: cốt truyện, nhân vật, người kể chuyện, lời trần thuật, đối với truyện ngắn còn có tình huống truyện.
Khi dạy VB truyện, GV cần bám sát những yếu tố chủ đạo này bên cạnh những đặc điểm riêng về thi pháp và phong cách nghệ thuật của nhà văn. Kĩ năng đọc hiểu VBTS cũng được nhóm tác giả xác định gồm: Tạo tâm thế đọc hiểu truyện; Đọc và tìm hiểu chung về văn bản truyện; Đọc hiểu ý nghĩa truyện qua các hình thức nghệ thuật (cốt truyện, không gian và thời gian nghệ thuật, nhân vật, tình huống, mạch kể,…); vận dụng kết quả đọc vào thực tiễn. Nghiên cứu về câu hỏi đọc hiểu trong VBTS, tác giả Nguyễn Thị Ngọc Thúy [134] đã hệ thống hóa những kĩ năng cụ thể trong kĩ năng đọc VBTS gồm: Xác định các chi tiết quan trọng của VB; Dự đoán tình huống; Tóm tắt và tổng hợp thông tin, Suy luận, Hình dung tưởng tượng; Liên hệ, kết nối; Kiểm soát quá trình hiểu. Tác giả cũng nhấn mạnh đến tiên trình đọc VBTS nói riêng và các loại VB nói chung trải qua ba giai đoạn: trước khi đọc với các kĩ thuật đọc lướt, đọc quét để có những cảm nhận chung về VB; trong khi đọc với các kĩ thuật giải mã, kiến tạo nghĩa ở bước đầu để hiểu từng phần của VB; sau khi đọc với các kĩ thuật giải mã kiến tạo nghĩa ở mức sâu hơn để hiểu được tổng thể VB.
Định hướng này cũng được tác giả vận dụng để soạn giáo án minh họa cho một số giờ giờ dạy học đọc hiểu VBTS ở cấp THPT với những đóng góp mới mẻ. Bên cạnh những công trình nghiên cứu đã đề cập trên đây, cũng có một số bài viết khác gián tiếp nói về vấn đề rèn kĩ năng đọc hiểu văn bản tự sự trong nhà trường phổ thông với những mức độ khác nhau. Đó là bài “Đọc 16 hiểu truyện ngắn hiện đại Việt Nam trong chương trình Ngữ văn THPT từ góc độ trần thuật” của tác giả Ngô Thị Hy [80]. Tác giả đã khẳng định vai trò của trần thuật trong việc dẫn dắt HS khám phá VB và phân tích một số nét độc đáo trong nghệ thuật trần thuật qua một số minh họa cụ thể.
Tuy nhiên vì thiếu hệ thống thao tác cần thiết nên việc hướng dẫn HS phát hiện, phân tích những nét sáng tạo về nghệ thuật trần thuật của truyện vẫn chưa thực sự sáng rõ. Với mục đích vận dụng thang nhận thức Bloom để xây dựng bài tập rèn kĩ năng đọc hiểu cho HS, tác giả Mai Xuân Miên [101] trong bài viết “Hệ thống bài tập rèn kĩ năng đọc hiểu tác phẩm tự sự cho học sinh THPT” đã chỉ ra những nguyên tắc và thiết kế hệ thống bài tập rèn kĩ năng đọc hiểu tác phẩm tự sự cho học sinh THPT theo thang nhận thức Bloom và hướng tới việc bám sát đặc trưng cơ bản của thể loại tự sự. Các loại bài tập mà tác giả giới thiệu rất phong phú gồm: bài tập sáng tạo, bài tập nhận diện thể loại, bài tập định hướng tiếp cận tác phẩm, bài tập phân tích tình huống truyện, bài tập phân tích cốt truyện, bài tập phân tích chi tiết nghệ thuật, bài tập phân tích nhân vật, bài tập phân tích hình tượng người kể chuyện, bài tập phân tích lời kể, bài tập phân tích kết cấu tác phẩm, bài tập khái quát chủ đề, bài tập đánh giá tác phẩm, bài tập tự nhận thức. Hệ thống bài tập rèn kĩ năng mà tác giả giới thiệu trên đây cũng có thể khái quát lại thành những nhóm lớn hơn như: đọc hiểu về nội dung văn bản, đọc hiểu về hình thức nghệ thuật của văn bản, đọc hiểu phản hồi văn bản, đọc hiểu kết nối vấn đề đặt ra trong văn bản với thực tiễn,… 1.
Nghiên cứu về dạy học đọc hiểu truyền thuyết trong nhà trường phổ thông Rất ít tài liệu và công trình nghiên cứu bàn về dạy học đọc hiểu truyền thuyết theo yêu cầu mới mà phần lớn là các công trình nghiên cứu về truyền thuyết và dạy học truyền thuyết nói chung. Dạy học đọc hiểu truyền thuyết theo yêu cầu mới cũng phải dựa trên các thành tựu nghiên cứu về thể loại truyện dân gian nói chung và dạy học truyền thuyết nói riêng. Vì thế luận án cũng phải khảo sát và coi đó là các tài liệu liên quan. Ở nước ngoài Liên quan đến vấn đề nghiên cứu về dạy học đọc hiểu truyền thuyết trong nhà trường phổ thông ở nước ngoài có một số khuynh hướng chủ yếu sau.
17 Khuynh hướng thứ nhất là so sánh truyện dân gian theo các hệ thống type, motif để chỉ ra những khác biệt của mỗi loại truyện, từ đó đưa ra những khuyến nghị cho GV. Một số bài viết có thể kể đến là Nghiên cứu so sánh ba type truyện cổ tích Trung Quốc và truyện cổ tích của người da đỏ Bắc Mỹ (A Comparative Study of Three Chinese and North- American Indian Folktale Types) của Đinh Nãi Thông, giáo sư người Mĩ gốc Hoa của trường đại học Western Illinois; Bảng tra motif và bảng tra type truyện cổ: Một bài phê bình (The Motif- Index and the Tale Type Index: A Critique) của Alan Dundes; Bảng tra cứu truyện dân gian: một khảo sát mang tính phê bình (Indexing Folktales: A Critical Survey) của Hans- Jorg Uther; Kết cấu, văn bản và nội dung của truyện kể và bảng tra cứu (Texture, Text, and Context of the Folklore Text vs. Indexing) HedaJason; Việc lập sơ đồ motif truyện cổ của vùng Newfoundland (Motifing the Folktales of Newfoundland) của Martin Lovelace… Những bài viết này2 đều tập trung hướng dẫn cách khai thác những đặc trưng cơ bản của truyện dân gian, trong đó có truyền thuyết. Những đặc trưng được nhấn mạnh là mô típ của truyện, mô típ nhân vật, kết cấu văn bản.
Đó cũng là gợi ý quan trọng để GV có thể xác lập hệ thống nhiệm vụ tương tự cho HS khi đọc hiểu các văn bản truyện dân gian nhằm hình thành cách đọc đúng. Khuynh hướng thứ hai là nghiên cứu truyện dân gian như là một phương tiện hiệu quả để dạy học ngôn ngữ, phân tích văn bản, giáo dục đạo đức, giáo dục giá trị văn hóa cho HS.