CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC SỬ DỤNG CÁC THƯỚC PHIM NGẮN TRONG DẠY HỌC NHẰM PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG NÓI CHO SINH NĂM THỨ NHẤT NGÀNH SƯ PHẠM TIẾNG ANH, TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC 1. Phát triển kỹ năng nói tiếng Anh 1. Khái niệm kỹ năng nói tiếng Anh Kỹ năng nói là kỹ năng dùng âm thanh để diễn tả ý nghĩ, ý kiến, lời nói của mình nhằm mục đích bày tỏ ý kiến, trò chuyện, giao tiếp với người nghe. Thông qua cuộc trò chuyện người nói với người nghe trao đổi thông tin lẫn nhau.
Theo Florez (1999, tr.98), nói là một quá trình tương tác mà người học sản sinh thông tin và tiếp nhận thông tin để tạo ra ý nghĩa.78) cũng khẳng định rằng sự khác nhau về các quy tắc ngữ pháp và từ vựng giữa hai ngôn ngữ khác nhau có thể gây ra khó khăn trong quá trình nói bằng ngôn ngữ thứ hai khác với nói bằng ngôn ngữ mẹ đẻ do người học thiếu vốn từ vựng và kiến thức ngữ pháp; quá trình sắp xếp ngữ pháp và các từ không tự động trong việc tạo ra ngôn ngữ thứ hai. Theo Trương Trần Minh Nhật (2018), tất cả những kiến thức liên quan về ngôn ngữ ít nhiều ảnh hưởng đến quá trình luyện tập và tiến bộ của sinh viên, bởi vì học một ngoại ngữ không chỉ đơn thuần là học từ vựng và các cấu trúc ngữ pháp, mà sinh viên còn phải biết cách sử dụng ngôn ngữ phù hợp với văn cảnh và mục đích của hoạt động nói. Sự cần thiết của việc phát triển kỹ năng nói tiếng Anh Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, tiếng Anh là một phần không thể thiếu trong quá trình hội nhập của mỗi quốc gia, tổ chức, và mỗi cá nhân. Kỹ năng nói tiếng Anh là một trong những kỹ năng quan trọng và không thể thiếu trong quá trình đó.
Một người có kỹ năng nói tốt sẽ có khả năng truyền tải thông tin bằng lời nói tốt hơn, giúp người nghe có thể hiểu được những gì người nói muốn truyền tải một cách rõ ràng và mạch lạc. Do vậy, người học cần phải phát triển kỹ năng nói tiếng Anh để có thể thành công hơn trong các giao thiệp trên bất kì lĩnh vực nào mà 15 người ta làm việc. Rao (2019) khẳng định rằng khi người học có kỹ năng nói tiếng Anh tốt thì họ cũng có thể phát triển được nhiều các kỹ năng khác như kỹ năng trả lời phỏng vấn, kỹ năng tranh biện, kỹ năng thảo luận nhóm, kỹ năng diễn thuyết trước đám đông, kỹ năng thuyết trình để phát triển toàn diện cho bản thân và đem lại lợi thế trong công việc. Có kỹ năng nói tốt cũng đồng nghĩa với việc mức độ tự tin được gia tăng, người học có cơ hội phát triển các mối quan hệ trong công việc tốt hơn.
Tầm quan trọng của kỹ năng nói Tiếng Anh - theo Rao (2019) Trong bối cảnh ở Việt Nam hiện nay, càng ngày càng có nhiều các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào thị trường Việt Nam. Theo ước tính của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) năm 2023 có thể đạt từ 36-38 tỷ USD, cao hơn mức gần 28 tỷ USD của năm 2022. Do đó, nhiều cơ quan, doanh nghiệp trong tất cả các lĩnh vực và ngành nghề yêu cầu nhân viên của mình phải biết giao tiếp cơ bản bằng tiếng Anh. Vì vậy, việc phát triển kỹ năng nói Tiếng Anh là vô cùng cần thiết, đặc biệt là đối với các ngành nghề liên quan đến việc tiếp xúc với người nước ngoài như tiếp viên, nhân viên tư vấn, phiên dịch viên.
Việc có khả năng nói tiếng Anh tốt sẽ giúp chúng ta có được đánh giá cao từ các nhà tuyển dụng. Rõ ràng, việc phát triển kỹ năng nói tiếng Anh là vô cùng cần thiết đối với công cuộc toàn cầu hóa cũng như đối với sự phát triển bản thân và sự nghiệp của 16 mỗi con người. Việc phát triển kỹ năng nói tiếng Anh không chỉ hỗ trợ người học trong học tập mà còn là tấm vé giúp họ có được những cơ hội việc làm tốt hơn cũng như hoàn thiện bản thân hơn. Các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng nói tiếng Anh của sinh viên Theo Prayuda (2021), có 6 yếu tố ảnh hưởng đến khả năng nói tiếng Anh của người học, đó là điều kiện thực hiện (performance condition), nhân tố cảm xúc (affective factors), khả năng nghe hiểu (listening ability), kiến thức về chủ đề (topical knowledge), phản hồi trong các hoạt động nói (feedback during speaking activities), và thói quen tự học ở nhà (study habit at home).
Điều kiện thực hiện (performance condition): Sinh viên thực hiện yêu cầu luyện tập nói trong nhiều điều kiện đa dạng mà Nation & Newton (2009) tin rằng có thể ảnh hướng tới khả năng nói tiếng Anh. Những điều kiện này có thể bao gồm những áp lực về thời gian, việc lên kế hoạch, tiêu chuẩn thực hiện và những sự hỗ trợ được cung cấp từ bên ngoài. Nhân tố cảm xúc (affective factors): Theo Krashen (1982), các biến số đa dạng trong cảm xúc của người học có ảnh hưởng rất lớn đến sự thành công của việc học ngôn ngữ thứ hai. Những nhân tố cảm xúc này thường được tập trung vào 3 phạm trù: động lực, sự tự tin và sự lo lắng.
Khả năng nghe hiểu (listening ability): Doff (1998, tr.199) khẳng định người học phải hiểu những gì người khác nói với họ thì họ mới có được một cuộc hội thoại hiệu quả. Cũng đồng tình với quan điểm đó, Shumin (1997) cho rằng khi một người nói, người còn lại phản ứng qua quá trình nghe hiểu của họ. Trên thực tế, mỗi người tham gia vào đàm thoại đều đóng vai trò vừa là người nghe vừa là người nói. Vì vậy, một người chắc chắn không thể phản hồi lại được nếu họ không hiểu người khác nói gì.
Hay nói cách khác, kỹ năng nghe có liên quan trực tiếp đến hiệu quả của kỹ năng nói. Kiến thức về chủ đề (topical knowledge): Bachman & Palmer (1996) nhận định rằng kiến thức về chủ đề là những kiến thức được đọng lại trong bộ nhớ dài hạn giúp người học liên hệ được với thế giới mà họ đang sống khi nói về bất kì một chủ đề gì. Do đó những người thiếu kiến thức nền về chủ đề mà họ đang nói sẽ khó 17 tham gia đàm thoại hơn và bị ảnh hưởng nhất định tới khả năng nói của mình. Phản hồi trong các hoạt động nói (feedback during speaking activites): Hầu hết sinh viên đều mong muốn giảng viên sẽ đưa ra những phản hồi cho phần thể hiện trong quá trình nói của họ.
Tuy nhiên, mỗi phần thể hiện nên được xử lý theo những cách khác nhau. Theo Harmer (1991), mọi quyết định giáo viên đưa ra về cách phản ứng với phần thể hiện của học sinh sẽ phụ thuộc vào từng giai đoạn của bài học, các hoạt động cụ thể, những kiểu lỗi mà học sinh mắc phải và đặc điểm tâm sinh lý của từng học sinh. Baker & Westrup (2003) cho rằng giáo viên luôn phải sửa lỗi cho học sinh một cách tích cực kèm theo những lời động viên để tạo động lực học tập cho học sinh. Thói quen tự học ở nhà (study habit at home): Thói quen tự học được Prayuda (2021) đánh giá là một trong những yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến quá trình học ngôn ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng.
Việc kiên trì và tự giác học ở nhà, tìm bạn để luyện tập cùng, tham gia các khóa học online có người bản ngữ giảng dạy, tự luyện tập nói và ghi âm để xem lại lỗi sai của mình… sẽ giúp học sinh thành công hơn trong việc phát triển kỹ năng nói. Các tiêu chí đánh giá kỹ năng nói tiếng Anh Hiện nay, kỹ năng nói tiếng Anh được đánh giá theo nhiều bộ tiêu chí khác nhau nhưng tất cả đều dựa trên những khía cạnh của kỹ năng nói như phát âm, từ vựng, ngữ pháp, độ trôi chảy, và khả năng phát triển cũng như liên kết ý (Brown, 2004). Phát âm (pronunciation) Theo Praduya (2021), phát âm là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong giao tiếp. Một người có phát âm tốt sẽ dễ dàng truyền tải thông tin rõ ràng và dễ hiểu hơn đến người nghe.
Ngược lại, người có phát âm không rõ ràng hoặc khó nghe sẽ gặp khó khăn hơn trong việc truyền tải thông điệp, lời nói của mình. Phát âm trong tiếng Anh được đánh giá trên ba phương diện: sự chính xác trong việc phát âm các âm đơn, sự phù hợp trong việc sử dụng trọng âm từ và trọng âm trong câu cũng như ngữ điệu phù hợp với mục đích giao tiếp. 18 Từ vựng (lexical resources) McCarthy (1990) nhận định từ vựng là nền tảng của bất kì ngôn ngữ nào. Để có thể truyền tải thông điệp một cách tốt nhất, người học cần có một lượng từ vựng đủ lớn.
Harmer (2007) cho rằng nếu như người học có vốn từ vựng tối thiểu 1000 từ, họ có thể giao tiếp một cách trôi chảy. Từ vựng tiếng Anh được đánh giá ở hai khía cạnh: lượng từ vựng được sử dụng ở các bậc khác nhau và độ chính xác trong việc sử dụng từ vựng trong văn cảnh, nhất là các thành ngữ và tục ngữ. Ngữ pháp (grammar) Theo Harmer (2007), ngữ pháp là sự sắp xếp các thành phần trong câu theo thứ tự chính xác với mục đích mang lại ý nghĩa cho câu.154) khẳng định một người mắc nhiều lỗi ngữ pháp trong cuộc trò chuyện sẽ gặp khó khăn trong việc truyền tải thông điệp, suy nghĩ. Do đó, để đánh giá kỹ năng nói tiếng Anh, người nói phải được đánh giá về số lượng và độ chính xác về các cấu trúc câu người đó có thể sử dụng, đặc biệt là các câu phức với các cấu trúc phức tạp.
Độ trôi chảy (fluency) Theo Mary Spratt (2005), độ trôi chảy trong khi nói là việc nói ở tốc độ vừa phải mà không bị ngắt quãng, lặp lại và liên kết các câu một cách trôi chảy. Do đó, khi đánh giá kỹ năng nói, tất cả các nhà giáo dục đều đồng ý phải đánh giá mức độ thoải mái và tự nhiên của người học khi nói, tỉ lệ các khoảng ngắt và khoảng dừng trong bài nói của người học. Liên kết, phát triển ý (cohesion and coherence) Widdowson (1978) và Stubbs (1983) định nghĩa tính liên kết (cohesion) đóng vai trò như một phương diện chính trong việc kết nối cấu trúc giữa các câu, trong khi đó, phát triển ý (coherence) là sự liên kết logic, mạch lạc giữa các hành vi giao tiếp.