phần mở đầu, lời cảm ơn, lời cam đoan, mục lục, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 3 chương sau: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận về địa vị pháp lý của bệnh viện hạng đặc biệt Chƣơng 2: Thực trạng địa vị pháp lý của bệnh viện hạng đặc biệt Bạch Mai Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp nâng cao địa vị pháp lý của bệnh viện hạng đặc biệt – từ thực tiễn Bênh viện Bạch Mai 7 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA BỆNH VIỆN HẠNG ĐẶC BIỆT 1. Quan niệm về địa vị pháp lý của bệnh viện và bệnh viện hạng đặc biệt 1. Quan niệm địa vị pháp lý Địa vị pháp lý là vị trí của chủ thể pháp luật trong mối quan hệ với những chủ thể pháp luật khác trên cơ sở các quy định pháp luật. Địa vị pháp lí của chủ thể pháp luật thể hiện thành một tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lí của chủ thể, qua đó xác lập cũng như giới hạn khả năng của chủ thể trong các hoạt động của mình.
Thông qua địa vị pháp lý có thể phân biệt chủ thể pháp luật này với chủ thể pháp luật khác, đồng thời cũng có thể xem xét vị trí và tầm quan trọng của chủ thể pháp luật trong các mối quan hệ pháp luật. Ta có thể dễ dàng thấy nếu không có sự nghiên cứu về địa vị pháp lý thì rất có thể sẽ nhầm lẫn địa các cơ quan, tổ chức, đơn vị., tức là không thể phân biệt được và biết được các cơ quan, tổ chức, đơn vị., đó có chức năng, nhiệm vụ quyền hạn gì, trực thuộc gì,…? Ví như không thể phân biệt, xác định được kiểm toán nhà nước với kiểm toán độc lập, kiểm toán độc lập sinh ra để giúp việc cho kiểm toán nhà nước là đúng hay sai? Hay như không thể biết được Chính phủ có nhiệm vụ, quyền hạn gì, có cơ cấu tổ chức ra sao? Ví dụ: địa vị pháp lí của công dân được thể hiện thành tổng thể các quyền và nghĩa vụ của công dân và được Hiến pháp, pháp luật quy định. Một sự kiện pháp lí như chết, thương tích do tai nạn., một hành vi pháp lí như mua, bán, tặng, cho, để thừa kế tạo ra một loạt quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm. cho một chủ thể nhất định 8 1.
Quan niệm bệnh viện và bệnh viện hạng đặc biệt Có quan điểm cho rằng bệnh viện là một hệ thống phức hợp bao gồm rất nhiều yếu tố có liên quan từ khám bệnh, người bệnh vào viện, chẩn đoán, điều trị chăm sóc. Bệnh viện là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho người bệnh, có các nhiệm vụ đã được quy định là: - Có khả năng và phương tiện chẩn đoán bệnh, điều trị và phẫu thuật - Có điều kiện thuận lợi cho việc điều trị nội trú, ngoại trú và có hệ thống theo dõi sức khỏe hàng ngày cho các bệnh nhân điều trị nội trú, ngoại trú - Không phải là nơi để an dưỡng phục hồi sức khỏe hoặc là một nơi đặc biệt chỉ có mục đích duy nhất là phục vụ cho người già, dưỡng lão hoặc giúp đỡ cai nghiện rượu, thuốc phiện, ma tuý hoặc để điều trị rối loạn tâm thần, điều trị bệnh phong hoặc là nơi điều trị suối khoáng, xông hơi, massage. Bệnh viện cũng là một tổ chức có đầu vào là người bệnh, cán bộ y tế, trang thiết bị y tế, thuốc cần có để chẩn đoán, điều trị bệnh và đầu ra là người bệnh đã được điều trị khỏi bệnh, phục hồi sức khỏe hoặc người bệnh tử vong. Theo WHO đã định nghĩa: “ Bệnh viện là một bộ phận không thể tách rời của một tổ chức xã hội và y tế, chức năng của nó là chăm sóc sức khỏe cho toàn dân, cả phòng bệnh và chữa bệnh, dịch vụ ngoại trú của bệnh viện phải vươn tới cả gia đình và môi trường cư trú.
Bệnh viện còn là trung tâm đào tạo cán bộ y tế và nghiên cứu sinh – xã hội học”. Có thể hiểu, bệnh viện là một cơ sở y tế bao gồm đội ngũ công chức, viên chức có trình độ chuyên môn kỹ thuật và năng lực quản lý, có trang thiết bị và cơ sở hạ tầng để phục vụ người bệnh. Bệnh viện là nơi diễn ra các hoạt động nhằm cung ứng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, bảo vệ sức khỏe, đáp ứng nhu cầu cung ứng lực lượng lao động có thể lực tốt cho xã hội Bệnh viện có những nhiệm vụ như sau: Một là, khám bệnh, chữa bệnh, là nơi tiếp nhận mọi người bệnh đến cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh nội trú và ngoại trú theo chế độ chính sách 9 Nhà nước quy định; tổ chức khám sức khỏe và chứng nhận sức khỏe theo quy định của Nhà nước Hai là, đào tạo nguồn nhân lực y tế. Các thành viên trong bệnh viện phải mẫu mực thực hiện quy chế Bệnh viện và quy định kỹ thuật Ba là, nghiên cứu khoa học, là nơi thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học, ứng dụng, những tiến độ khoa học kỹ thuật vào việc khám bệnh, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe người bệnh Bốn là, chỉ đạo tuyến, hệ thống các Bệnh viện được tổ chức theo tuyến kỹ thuật.
Tuyến trên có trách nhiệm chỉ đạo kỹ thuật tuyến dưới Năm là, phòng bệnh, song song với khám bệnh, chữa bệnh phòng bệnh là nhiệm vụ quan trọng của Bệnh viện Sáu là, hợp tác quốc tế theo đúng các quy định của Nhà nước Bảy là, quản lý kinh tế trong Bệnh viện, thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của Nhà nước về thu, chi nhân sách của Bệnh viện từng bước tổ chức việc hạch toán chi phí về khám bệnh, chữa bệnh Hiện nay, tất cả các bệnh viện, viện nghiên cứu có giường bệnh (gọi chung là bệnh viện) thuộc hệ thống y tế nhà nước đều được xem xét, xếp hạng. Việc xếp hạng nhằm mục đích: - Hoàn chỉnh về tổ chức, nâng cao trình độ chuyên môn kĩ thuật và chất lượng công tác; Đầu tư phát triển các bệnh viện trong từng giai đoạn thích hợp; - Phân tuyến chuyên môn kỹ thuật y tế; - Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, bố trí lao động và thực hiện các chế độ chính sách đối với cán bộ, viên chức trong bệnh viện. Việc xếp hạng bệnh viện được xác định trên nguyên tắc đánh giá chấm điểm theo 5 nhóm tiêu chuẩn: Nhóm tiêu chuẩn I: Vị trí, chức năng và nhiệm vụ Nhóm tiêu chuẩn II: Quy mô và nội dung hoạt động Nhóm tiêu chuẩn III: Cơ cấu lao động và trình độ cán bộ Nhóm tiêu chuẩn IV: Cơ sở hạ tầng 10 Nhóm tiêu chuẩn V: Trang thiết bị y tế, kỹ thuật chẩn đoán và điều trị Các báo cáo, số liệu lưu trữ của bệnh viện và qua kiểm tra thực tế là căn cứ để tham khảo chấm điểm: Bệnh viện Hạng I: phải đạt từ 90 điểm trở lên và thỏa mãn các điều kiện bắt buộc như quy định Bệnh viện Hạng II: phải đạt từ 70 đến dưới 90 điểm và thỏa mãn các điều kiện bắt buộc như quy định Bệnh viện Hạng III: phải đạt từ 40 đến dưới 70 điểm. Bệnh viện Hạng IV: dưới 40 điểm.
Bệnh viện Hạng đặc biệt: những BV Hạng I đạt 100 điểm và thỏa mãn các tiêu chuẩn xếp hạng đặc biệt. Riêng với bệnh viện hạng đặc biệt do Bộ Nội Vụ ra quyết định xếp hạng. Tiêu chuẩn cụ thể xếp hạng bệnh viện đặc biệt như sau: Bảng 1.1: Các tiêu chuẩn cụ thể của bệnh viện hạng đặc biệt TT TIÊU CHUẨN 1. Vai trò và chức năng, nhiệm vụ a) Là tuyến cuối cùng trong bậc thang điều trị; tiếp nhận và điều trị cho người bệnh trong phạm vi nhiều vùng hay toàn quốc hoặc là cơ sở điều trị các đối tượng người bệnh đặc biệt b) Là cơ sở thực hành, đào tạo cán bộ sau đại học; cán bộ của bệnh viện trực tiếp tham gia đào tạo sau đại học và đào tạo cán bộ chuyên khoa sâu có trình độ sau đại học cho khu vực hay toàn quốc 2 Quy mô và tổ chức khoa phòng a) Có quy mô giường bệnh từ 1200 giường trở lên b) Tổ chức khoa phòng trong BV theo chuyên khoa và chuyên khoa sâu, đáp ứng chức năng, nhiệm vụ được giao: Các khoa lâm sàng tổ chức theo chuyên khoa và chuyên khoa sâu; Có các labo theo chuyên khoa sâu trong khu vực cận lâm sàng.
c) Trên 70% số khoa lâm sàng tổ chức chăm sóc người bệnh toàn diện 3 Trình độ cán bộ chuyên môn và quản lý 11 a) 100% Trưởng, Phó phòng có trình độ đại học, sau đại học b) 100% Trưởng các khoa lâm sàng, cận lâm sàng có trình độ Tiến sĩ hoặc Chuyên khoa 2 c) Trên 70% Điều dưỡng/Nữ hộ sinh/Kỹ thuật viên trưởng khoa có trình độ từ cử nhân điều dưỡng (cao đẳng hoặc đại học) trở lên d) Trên 70% số thầy thuốc điều trị ở các khoa lâm sàng có trình độ sau đại học (từ Thạc sỹ hoặc Chuyên khoa 1 trở lên) e) Trên 20% điều dưỡng ở các khoa lâm sàng có trình độ từ cử nhân điều dưỡng (cao đẳng hoặc đại học) trở lên 4 Cơ sở hạ tầng, trang thiết bị a) Đảm bảo đủ diện tích hoạt động: diện tích sàn bình quân trên giường bệnh đạt từ 60 m2 trở lên b) Có ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý bệnh viện; có hệ thống máy tính nối mạng toàn bệnh viện 5 Khả năng chuyên môn, kĩ thuật a) Có trang thiết bị và thực hiện được các kỹ thuật tiên tiến, chuyên sâu trong xét nghiệm huyết học, sinh hoá, vi sinh vật, miễn dịch huyết học, huyết thanh, virus, sinh học phân tử, phóng xạ, giải phẫu bệnh lý. (Các xét nghiệm chẩn đoán ung thư, xác định kháng nguyên, kháng thể, định danh vi khuẩn, virus, cấu trúc nhiễm sắc thể, cấu trúc gen, xét nghiệm sinh học phân tử, đông máu v.) b) Có trang thiết bị đặc hiệu và thực hiện được các xét nghiệm, thăm dò chức năng, chẩn đoán hình ảnh phức tạp, chuyên sâu (CT scan, MRI, chụp mạch máu DSA, C-arm, siêu âm màu doppler v.) c) Có trang thiết bị đặc hiệu và thực hiện được các kỹ thuật y học tiên tiến, phức tạp, chuyên khoa sâu, như: cấy ghép mô, tạng, vi phẫu thuật, thụ tinh trong ống nghiệm, mổ tim hở, can thiệp động mạch, thông tim, thăm dò phóng xạ, xạ trị, các phẫu thuật sọ não, thần kinh, mạch máu, phẫu thuật tạo hình sử dụng vật liệu nhân tạo thay thế v.