Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Khái niệm sử dụng trong nghiên cửu 1.1 Khải niệm Quá tải: Theo từ điển[22] Việt Nam quá tải được hiểu là vượt qưá sức tải, sức chịu đựng. Tuy nhiên khái niệm quá tải bệnh viện cho đến nay chưa có định nghĩa rõ ràng, thống nhất song theo Trần Tấn Trâm (1997)[ 19] quá tải bệnh viện được coi là quá tải sức làm việc của nhân viên tại bệnh viện hoặc quá số giường theo kế hoạch hay trang thiết bị của bệnh viện không đáp ứng. Tức là có 2 dạng quá tải: quá tải về cơ sở vật chất - trang thiểt bị y tế và quá tải về sức làm việc của nhân viên y te[ 19]- Theo các nhà quản lý bệnh viện Nhi đồng 2 (2006) tình trạng quá tái tức là khi bệnh nhân đông, vượt khả năng thích ứng của bệnh viện và bệnh viện không thể phục vụ bệnh nhân theo một chuẩn mực nhất đỊnh[16]. Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng khái niệm về quá tải bệnh viện theo Trần Tấn Trâm và cộng sự (1997) tuy nhiên do hạn chế về nguồn lực cũng như thời gian, nghiên cứu chưa có điều kiện đề cập tới sự quá tải về sức làm việc của cơ sở vật chất và trang thiết bị mảy móc tại bệnh viện.
Luận văn giới hạn nghiên cứu sự quá tải bệnh viện theo khía cạnh quá tải sức làm việc của nhân viên y te và công suất sử dụng giường bệnh nội trú.2 Các khải niệm khác: Cơ sở khảm bệnh, chữa bệnh bảo hiếm y tế (BHYT) ban đầu là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đầu tiên theo đãng ký của người tham gia BHYT và được ghi trong thẻ BHYT[7]. Khám chữa bệnh đúng quy định (KCB đúng tuyến) là KCB đúng tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh BHYT ban đầu[8]. Khám chữa bệnh không đủng quy định (KCB trái tuyến) là KCB không đúng tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh BHYT ban đầu[8]. -6 - Chuyển tuyến KCB BHYT-.
Chuyển tuyến theo mức độ bệnh tật phù hợp phạm vi chuyên môn và phân tuyến kỹ thuật theo quy định của Bộ Y tế. Trường hợp chuyển tuyến điều trị người tham gia BHYT phải có hồ sơ chuyển viện của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh[7][8]. Vượt tuyển: Vượt tuyển là bỏ qua tuyến khám chữa bệnh ban đầu và lên thẳng tuyến trên[8]. Chất lượng chăm sóc y tế là mức độ mà dịch vụ y tế cho cá nhân và cho công chúng nâng cao khả năng đạt được các mong muốn về sức khỏe và tương đong với kiến thức chuyên môn hiện đại (IMO,1990).
Sức khỏe của cá nhân và cộng đồng cũng phụ thuộc rất nhiều vào tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe có chất lượng. Chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe mà bệnh viện nói riêng và các cơ sở y tế nói chung cung cáp là: Dịch vụ CSSK được cung cấp trong thời gian nhanh nhất có thể, Dịch vụ CSSK được cung cấp đem lại nhiều lợi ích cho khách hàng bên ngoài (người bệnh) và bên trong (các nhân viên y tế) (Trường Đại học Y te Công Cộng, 2004) Như vậy, chất lượng dịch vụ là đáp ứng được nhu cầu/ sự kỳ vọng, mong chờ của khách hàng và đây chính là khái niệm về sự hài lòng của khách hàng.2 Các yếu tố liên quan đến quá tải: 1. ỉ Nhóm yếu tổ trong bệnh viện: - Quản lý chuyên môn, quy trình khám chữa bệnh: o Tiêu chuẩn vào viện, ra viện: Neu các tiêu chuẩn cho bệnh nhi vào viện điều trị nội trú quá dễ dàng, việc sàng lọc chẩn đoán tại phòng khám không tốt thể hiện ở sự phù hợp về chẩn đoán giữa phòng khám và khoa điều trị nội trú dẫn đến tình trạng bệnh chưa cần vào viện đã cho vào viện điều trị sẽ gây quá tải nội trú. ■ -7- o Tuân thủ hay không tuân thú các quy trình chuyên môn kỹ thuật, quy trình chăm sóc, chống nhiễm khuẩn.
cũng ảnh hưởng đen thời gian điều trị nội trú của bệnh nhân. o Quy trình tiếp đón, khám bệnh cho bệnh nhân tại khu vực phòng khám. Quy trình này không gây nên quá tải số lượng bệnh nhân đến khám tại bệnh viện song nếu quy trình thiếu tính khoa học, không hợp lý với số lượng bệnh nhân đến khám đông sẽ gầy nên ùn tắc, tăng số lượng bệnh nhân tại một khâu nào đó của quy trình do vậy sẽ làm tăng thời gian chờ đợi ảnh hưởng đến chất lượng KCB, sự hài lòng của người bệnh. - Nhân lực chuyên môn: số lượng, chất lượng các Bác sĩ, Điều dưỡng làm việc trong chuyên khoa Nhi và nguồn nhân lực này có đủ để đáp ứng số lượng trẻ đến khám và điều trị tại bệnh viện hay không? Nguồn nhân lực thiểu hay sử dụng chưa hiệu quả? - Cơ sở vật chất mô tả chủ yếu ở đây chỉ là số giường bệnh kế hoạch, số giường thực kê của khối Nhi bệnh viện có đủ đáp ứng với nhu cầu khám chữa bệnh hiện tại hay không? - Ngoài ra, cơ chế tự chủ bệnh viện đối với việc thu hút và giữ bệnh nhân điều trị để tăng nguồn thu cho bệnh viện.2 Các yếu tố ngoài bệnh viện: - Phân tuyến: o Bệnh viện là nơi có thẻ đăng ký KCB ban đầu, số lượng thẻ BHYT đúng tuyến nhiều thì số lượng bệnh nhân BHYT đến khám cũng sẽ nhiều o Bệnh nhân chuyển tuyến điều trị, bệnh nhân cấp cứu o Bệnh nhân vượt tuyến.
- Các yếu tố tâm lý, thói quen, địa lý. Tìm hiểu một số lý do chính làm cho người nhà đưa trẻ vượt tuyến đi KCB: o Thói quen, tâm lý, quen biết nhân viên y tế o Tin tưởng chất lượng KCB của BV o Thuận tiện về đường giao thông, về thời gian KCB ■ -8- o Khả năng chi trả của người nhà bệnh nhân o Không nắm được về quyền lợi và trách nhiệm của người tham gia BHYT. - Khả năng đáp ứng của tuyến dưới, tuyến y tế cơ sở: o Nhân lực: số lượng, chất lượng o Chất lượng KCB của tuyến dưới o Thiếu hụt một số dịch vụ y tế trên địa bàn. - Ảnh hưởng của một số cơ chế, chính sách: o Luật BHYT: mở rộng quyền lợi cho các đối tượng tham gia BHYT khi vượt tuyển.
- Yếu tố khách quan đối với việc Hà Nội mở rộng về địa giới hành chính, địa lý: Dân số Hà Nội tăng nên số trẻ em dưới 15 tuổi cũng tăng. Đó là còn chưa kể đến sự di dân từ ngoại tỉnh về Hà Nội làm cho sự phát triển của ngành y te đáp ứng không 1.3 Đặc điểm khối Nhi bệnh viện đa khoa Xanh Pôn: Khối nhi BV Xanh Pôn bao gồm phòng khám nhi và các khoa điều trị nội trú: khoa tim mạch trẻ em (khoa D) 25 giường, khoa sơ sinh (khoa E) 30 giường, khoa Hô hấp - Tiết niệu (khoa H) 45 giường, khoa Hồi sức cấp cứu nhi (Tăng cường nhi) 8 giường và khoa Nhi tổng hợp (khoa I) 40 giường. Khoa Nhi hoạt động theo quy chế công tác khoa Nhi, thực hiện đầy đủ 14 quy chế chuyên môn và 21 quy chế quản lý bệnh bệnh viện. Mỗi thành viên của khoa Nhi phải thực hiện đầy đủ và nghiêm túc nhiệm vụ, quyền hạn và chức trách cá nhân đã được quy định tại phần II của Quy chế bệnh viện.
Nhân lực: Bác sĩ: 46 Bác sĩ gồm: J 01 Tiến sỹ nhi khoa J 10 Thạc sỹ nhi khoa J 07 Bác sĩ chuyên khoa II nhi •J 13 Bác sĩ chuyên khoa I nhi ■ -9- ■f 08 Bác sĩ chuyên khoa Nhỉ J 07 Bác sĩ đa khoa. Như vậy Bác sĩ được đào tạo chuyên ngành nhi (đại học và trên đại học) chiếm 85% tổng số các Bác sĩ tham gia trong công tác KCB nhi khoa. Điều dưỡng: 96 điều dưỡng gồm: J 04 cử nhân điều dưỡng J 02 cử nhân cao đẳng điều dưỡng J 90 điều dưỡng. Khối Nhi BVĐK Xanh Pôn được Sở Y tể Hà Nội giao cho nhiệm vụ là đầu ngành Nhi của Hà Nội nên có chức năng và nhiệm vụ chính là: - Khám chữa bệnh nội trú và ngoại trú cho trẻ em dưới 15 tuổi của Thủ đô Hà Nội và các tỉnh lân cận, - Tổ chức chỉ đạo chuyên khoa cho tuyến dưới về chuyên môn kỹ thuật, kểt hợp với các cơ sở ỵ tể thực hiện chương trình chăm sóc sức khỏe ban đầu, - Là cơ sở để thực hành đào tạo cán bộ y tể ở các bậc trên đại học, đại học, trung học, - Nghiên cứu khoa học và phát triển chuyên môn kỹ thuật về chuyên khoa Nhi, - Tăng cường hợp tác với các tổ chức, cá nhân trong nước và Quốc tể.4 Phân tuyến KCB cho Nhi Hà Nội Công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em đã được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm vì vậy ngày 15 tháng 6 năm 2004, Quốc hội đã thông qua Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
Luật đã nêu rõ: “Trẻ em có quyền được chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ. Trẻ em dưới sáu tuổi được chăm sóc sức khoẻ ban đầu, được khám bệnh, chữa bệnh không phải trả tiền tại các cơ sở y tế công lập” (Điều 15. Quyền được chăm sóc sức khoẻ - Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em). Ngày 14/11/2008 Luật Bảo hiểm y tế sổ 25/2008/QH12 đã được Quốc hội khóa XII kỳ họp thứ 4 thông qua.1 Trước kh i luật BHYT ra đời: Khám chừa bệnh đúng tuyến: Trẻ dưới 6 tuổi: Nghị định 36/2005/NĐ-CP ngày 17/3/2005 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
Thông tư 14/2005/BYT ngày 6/5/2005 về việc hướng dẫn khám chữa bệnh cho trẻ dưới 6 tuổi tại các cơ sở y tế công lập và công văn số 5477/ƯB-VX ngày 14/12/2005 của ƯBND Thành phố Hà Nội về việc phân tuyến KCB ban đầu cho trẻ em dưới 6 tuổi tại một số bệnh viện trong Thành phố. Công văn đã quy định: Trẻ em dưới 6 tuổi trên địa bàn được phân tuyến KCB ban đầu tại BV Xanh Pôn gồm các quận Ba Đình, Hoàn Kiếm và Tây Hồ là KCB đúng tuyến được hưởng theo chế độ thông tư 14. Trẻ từ 6 đến dưới 15 tuổi: BHYT học sinh thực hiện theo Nghị định 63/2005/NĐ-CP ngày 16/5/2005 của Chính phủ ban hành Điều lệ BHYT: KCB BHYT đúng tuyến là khám đúng nơi đãng ký KCB ban đầu ghi trên thẻ. Các trẻ dưới 6 tuổi thuộc các địa bàn khác hoặc thẻ BHYT học sinh trái tuyến khi đến khám có giấy chuyển viện từ tuyển dưới lên sẽ được hưởng như khám chữa bệnh đúng tuyến.