ĐẶT VẤN ĐỀ Trong những năm gần đây, nhu cầu sử dụng dược phẩm trong nước đã tăng đáng kể do sự gia tăng dân số cùng với thu nhập bình quân đầu người tăng, kéo theo nhu cầu chăm sóc sức khỏe và chi tiêu cho thuốc cũng ngày càng tăng. Điều này cũng đồng nghĩa với sự phát triển đa dạng của thị trường dược phẩm với nhiều chủng loại và nhà cung cấp khác nhau. Tuy nhiên, việc sử dụng thuốc không hiệu quả, không hợp lý nói chung và trong bệnh viện nói riêng vẫn là vấn đề đáng lo ngại ở nhiều quốc gia. Để giải quyết vấn đề này, Tổ chức Y tế Thế giới đã khuyến cáo các quốc gia thành lập Hội đồng thuốc và điều trị tại các bệnh viện nhằm đảm bảo sự an toàn và hiệu quả trong sử dụng thuốc.
Việc Bộ Y tế ban hành Thông tư 21/2013/TT-BYT vào ngày 08 tháng 08 năm 2013 về tổ chức hoạt động của Hội đồng thuốc và điều trị trong Bệnh viện cũng là một bước đi quan trọng để cải thiện việc sử dụng thuốc trong các bệnh viện [1]. Bệnh viện Quân Dân Y Miền Đông - Quân khu 7 đã thực hiện nhiều biện pháp nhằm tăng cường sử dụng thuốc hợp lý và an toàn trong điều trị và đạt được nhiều kết quả đáng kể. Tuy nhiên, công tác cung ứng thuốc và quản lý sử dụng thuốc của bệnh viện vẫn còn một số khó khăn. Câu hỏi đặt ra là: Cơ cấu DMT sử dụng tại Bệnh viện hiện nay như thế nào? Kết qủa sử dụng theo ABC/VEN có vấn đề gì cần cải thiện? Với mong muốn tìm hiểu thực trạng sử dụng danh mục thuốc (DMT) tại Bệnh viện Quân Dân Y Miền Đông - Quân khu 7 hiện nay, và đánh giá tính hợp lý của danh mục thuốc đã được lựa chọn, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu "Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện Quân Dân Y Miền Đông – Quân khu 7 năm 2022" với hai mục tiêu chính: 1 1.
Mô tả cơ cấu danh mục thuốc được sử dụng tại bệnh viện Quân Dân Y Miền Đông – Quân khu 7 năm 2022 2. Phân tích danh mục thuốc được sử dụng tại bệnh viện Quân Dân Y Miền Đông – Quân khu 7 theo phương pháp ABC, VEN và ma trận ABC/VEN. Phân tích và nghiên cứu 2 mục tiêu trên giúp cho Bệnh viện Quân Dân Y Miền Đông – Quân khu 7 có đầy đủ thông tin thực trạng thuốc hiện có trong BV, phác đồ điều trị của BV năm 2022. Dựa vào các thông tin này BV có thể xây dựng DMT phù hợp hơn vào năm 2023, tối ưu hóa nguồn ngân sách và nâng cao dịch vụ điều trị cho người dân.
Tổng quan về danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện 1. Khái niệm danh mục thuốc Danh mục thuốc (DMT) là một danh sách các thuốc được sử dụng trong hệ thống chăm sóc sức khỏe và các bác sỹ sẽ kê đơn các thuốc trong danh mục này. Danh sách thường được liệt kê theo tên chung và tên thương mại (nếu có), cùng với thông tin về thành phần hoạt chất, công dụng, cơ chế tác động, đường dùng, liều lượng khuyến nghị, cách dùng, tác dụng phụ, tương tác thuốc và các hạn chế về sử dụng. Danh mục thuốc Bệnh viện bao gồm các thuốc bệnh viện đã lựa chọn và phê duyệt sử dụng trong Bệnh viện.
Đây là cơ sở đảm bảo nguồn cung cấp thuốc nhằm phục vụ nhu cầu điều trị an toàn và hiệu quả cho bệnh nhân. DMT được phân tích theo mô hình bệnh tật của Bệnh viện vả được sửa đổi và xây dựng lại hằng năm với mục đích phù hợp phác đồ điều trị và cung cấp dịch vụ tốt nhất cho người dân. Tiêu chí lựa chọn thuốc Căn cứ theo khoản 2 Điều 5 Thông tư 21/2013/TT-BYT quy định về xây dựng danh mục thuốc dùng trong bệnh viện như sau [1]: a) Thuốc có đủ bằng chứng tin cậy về hiệu quả điều trị, tính an toàn thông qua kết quả thử nghiệm lâm sàng. Mức độ tin cậy của các bằng chứng được thể hiện tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư này; b) Thuốc sẵn có ở dạng bào chế thích hợp bảo đảm sinh khả dụng, ổn định về chất lượng trong những điều kiện bảo quản và sử dụng theo quy định; c) Khi có từ hai thuốc trở lên tương đương nhau về hai tiêu chí được quy định tại Điểm a và Điểm b Khoản 2 Điều này thì phải lựa chọn trên cơ sở đánh giá kỹ các yếu tố về hiệu quả điều trị, tính an toàn, chất lượng, giá và khả năng cung ứng; d) Đối với các thuốc có cùng tác dụng điều trị nhưng khác về dạng bào chế, cơ chế tác dụng, khi lựa chọn cần phân tích chi phí - hiệu quả giữa các thuốc với 3 nhau, so sánh tổng chi phí liên quan đến quá trình điều trị, không so sánh chi phí tính theo đơn vị của từng thuốc; e) Ưu tiên lựa chọn thuốc ở dạng đơn chất.
Đối với những thuốc ở dạng phối hợp nhiều thành phần phải có đủ tài liệu chứng minh liều lượng của từng hoạt chất đáp ứng yêu cầu điều trị trên một quần thể đối tượng người bệnh đặc biệt và có lợi thế vượt trội về hiệu quả, tính an toàn hoặc tiện dụng so với thuốc ở dạng đơn chất; f) Ưu tiên lựa chọn thuốc generic hoặc thuốc mang tên chung quốc tế, hạn chế tên biệt dược hoặc nhà sản xuất cụ thể. g) Trong một số trường hợp, có thể căn cứ vào một số yếu tố khác như các đặc tính dược động học hoặc yếu tố thiết bị bảo quản, hệ thống kho chứa hoặc nhà sản xuất, cung ứng. Các phương pháp phân tích danh mục thuốc sử dụng 1. Một số phương pháp phân tích sử dụng thuốc Việc phân tích danh mục thuốc của năm trước giúp Khoa Dược khái quát về tình hình sử dụng thuốc trong bệnh viện, điều chỉnh phù hợp với mô hình bệnh tật từ đó xây dựng nên danh mục thuốc mới phù hợp thực trạng hiện nay, đảm bảo chất lượng điều trị tại bệnh viện.
Các phương pháp ABC, phân tích VEN, ma trận ABC/VEN,… dùng để phân tích dữ liệu đảm bảo tính khách quan và xác định các vấn đề lớn mà bệnh viện đang gặp phải. Theo đó, mỗi phương pháp đều có thế mạnh riêng cung cấp thông tin chi tiết về việc sử dụng thuốc, chỉ ra các yếu tố cần cải thiện. Phương pháp phân tích ABC Khoản 1, Điều 2 Thông tư số 21/2013/TT-BYT có nêu ra định nghĩa về phân tích ABC là phương pháp phân tích tương quan giữa lượng thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí nhằm phân định ra những thuốc nào chiếm tỉ lệ lớn trong ngân sách cho thuốc của bệnh viện. Phương pháp này áp dụng nguyên lý Pareto (20/80), 80% hậu quả chỉ đến từ 20% nguyên nhân, chỉ ra mối quan hệ bất bình đẳng giữa đầu vào và đầu ra.
Phương pháp phân tích ABC cho thấy các thuốc chiếm chi phí cao lại chiếm 4 tỉ lệ nhỏ trong danh sách lượng thuốc tiêu thụ [1] [2]. Các bước tiến hành phân tích ABC theo thông tư số 21/2013/TT-BYT được Bộ Y Tế đưa ra vào ngày 08/08/20213 quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng thuốc và điều trị trong Bệnh viện, Hà Nội [1]. Phân tích ABC có thể ứng dụng các số liệu tiêu thụ cho chu kỳ trên 1 năm hoặc ngắn hơn. Từ kết quả thu được bằng phân tích ABC có thể: + Cho thấy những thuốc được sử dụng thay thế với lượng lớn mà có chi phí thấp trong danh mục hoặc có sẵn trên thị trường.
Thông tin này được sử dụng để: lựa chọn những thuốc thay thế có chi phí điều trị thấp hơn, tìm ra những liệu pháp điều trị thay thế, thương lượng với nhà cung cấp để mua được thuốc với giá thấp hơn. + Lượng giá mức độ tiêu thụ thuốc, phản ánh nhu cầu chăm sóc sức khỏe của cộng đồng và từ đó phát hiện những vấn đề chưa hợp lý trong sử dụng thuốc, bằng cách so sánh lượng thuốc tiêu thụ với MHBT. + Xác định phương thức mua các thuốc không có trong danh mục thuốc thiết yếu của BV. Tóm lại ưu điểm chính của phân tích ABC là giúp xác định phần lớn ngân sách được chi trả cho những thuốc nào, nhược điểm chính của phương pháp này là không cung cấp được thông tin để so sánh những thuốc có hiệu lực khác nhau [2].
Phương pháp phân tích VEN Khác với phương pháp ABC là phân tích sự tương quan lượng thuốc theo tỉ lệ chi phí ngân sách, phương pháp VEN sẽ thiết lập thứ tự các thuốc ưu tiên cho hoạt động mua sắm và tồn trữ thuốc trong bệnh viện khi nguồn kinh phí không đủ để mua toàn bộ các loại thuốc như mong muốn. Các thuốc sẽ được chia nhóm theo tiêu chí điều trị, chia thảnh 3 loại: thuốc quan trọng, thuốc thiết yếu và thuốc không thiết yếu. Phân tích VEN cho phép so sánh hiệu quả và công dụng của thuốc, bổ sung khuyết điểm của phương pháp ABC [3]. Các loại thuốc được chia thành 3 nhóm như sau: 5 - Vital drugs (V) – thuốc quan trọng: Thuốc được dùng trong trường hợp cấp cứu hoặc thuốc rất quan trọng, được sử dụng trong các dịch vụ y tế cơ bản.
- Essential drugs (E) – Thuốc thiết yếu: Thuốc được dùng điều trị các trường hợp bệnh ít nghiêm trọng hơn nhưng vẫn cần thiết trong điều trị các bệnh lý quan trọng của Bệnh viện. - Non-essential drugs (N) – thuốc không thiết yếu: Thuốc dùng cho điều trị bệnh nhẹ hoặc bệnh tự khỏi; thuốc này có thể có hoặc không phải là những mặt hàng có trong danh mục thuốc và có hiệu quả, nhưng chúng là những mặt hàng ít quan trọng nhất được dự trữ. Mục đích của phương pháp VEN là để xác định các thuốc quan trọng mà Bệnh viện bắt buộc phải dự trữ và sử dụng trong hệ thống, từ đó xác định lại việc quản lý và phân bổ ngân sách danh mục thuốc. Phương pháp phân tích ABC/VEN Phương pháp ABC/VEN kết hợp cả 2 yếu tố, yếu tố ngân sách (ABC) và yếu tố ưu tiên điều trị (VEN), từ đó Bệnh viện xây dựng danh mục các thuốc cần ưu tiên cho mô hình bệnh tật.
Ma trận ABC/VEN được chia thành các nhóm sau: Bảng 1.