ĐẶT VẤN ĐỀ Công ty TNHH MTV bệnh viện đại học y dược Shing Mark (gọi tắt bệnh viện ĐHYD Shing Mark) là một bệnh viện đa khoa tư nhân, phục vụ khám chữa bệnh cho đối tượng bệnh nhân có bảo hiểm y tế, bảo hiểm y tế tư nhân và đặc biệt là người nước ngoài – chủ yếu là người Trung Quốc và người Đài Loan làm việc và sinh sống khu vực lân cận. Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu của con người ngày càng tăng, trong đó nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng được chú trọng. Người bệnh luôn muốn nhận được chất lượng chăm sóc y tế tốt, trong đó bao gồm chất lượng thuốc điều trị. Làm sao để đáp ứng nhu cầu điều trị của bệnh nhân, đồng thời cũng sử dụng hợp lý quỹ bảo hiểm y tế thì việc sử dụng thuốc như thế nào để đáp ứng đủ nhu cầu điều trị cho bệnh nhân theo yêu cầu và phù hợp với quy định chi trả của bảo hiểm y tế cho bệnh nhân có bảo hiểm y tế là vấn đề cần quan tâm.
Nhu cầu là vô hạn nhưng nguồn lực là hữu hạn, vì thế bệnh viện cần có các biện pháp để tăng cường quản lý việc sử dụng thuốc hiệu quả, an toàn và chi phí hợp lý, đảm bảo nguồn ngân sách, đáp ứng nhu cầu sử dụng. Mặt khác, bệnh viện mới thành lập năm 2017 nên công tác cung ứng và quản lý sử dụng còn nhiều khó khăn, chưa sâu sát. Với mong muốn tìm hiểu thực trạng sử dụng danh mục thuốc hiện nay tại bệnh viện như thế nào? và các thuốc đã được lựa chọn có hợp lý hay không? Do đó, tôi tiến hành đề tài nghiên cứu “Phân tích danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện đại học y dược Shing Mark tỉnh Đồng Nai năm 2022” với mục tiêu sau: 1. Mô tả cơ cấu danh mục thuốc được sử dụng tại bệnh viện đại học y dược Shing Mark tỉnh Đồng Nai năm 2022.
Phân tích danh mục thuốc được sử dụng tại bệnh viện đại học y dược Shing Mark tỉnh Đồng Nai năm 2022 theo phương pháp ABC, VEN và ma trận ABC/VEN. Khái quát về danh mục thuốc bệnh viện 1. Khái niệm danh mục thuốc Thuốc là chế phẩm có chứa dược chất hoặc được liệu dùng cho người nhằm mục đích phòng bệnh, chẩn đoán bệnh, chữa bệnh, điều trị bệnh, giảm nhẹ bệnh, điều chỉnh chức năng sinh lý cơ thể người bao gồm thuốc hóa dược, thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền, vắc xin và sinh phẩm [1]. Theo WHO “Danh mục thuốc bệnh viện là danh sách các thuốc đã được lựa chọn và phê duyệt để sử dụng trong bệnh viện”.
DMTBV là cơ sở để đảm bảo cung ứng thuốc chủ động, có kế hoạch nhằm phục vụ cho nhu cầu điều trị hợp lý, an toàn, hiệu quả, kinh tế. DMT tốt sẽ mang đến những lợi ích sau: - Loại bỏ được các thuốc không an toàn và kém hiệu quả, từ đó có thể giảm được số ngày nằm viện, đồng thời giảm tỉ lệ bệnh tật và tử vong. - Giảm số lượng và chi phí mua thuốc, sử dụng chi phí tiết kiệm được để mua các thuốc chất lượng tốt hơn, an toàn và hiệu quả hơn. - Giúp BV tập trung vào các hoạt động cung cấp thông tin thuốc và đào tạo liên tục cho cán bộ nhân viên.
Nguyên tắc xây dựng danh mục thuốc Căn cứ vào DMT thiết yếu, DMT chủ yếu và các quy định sử dụng thuốc do Bộ Y tế ban hành, đồng thời căn cứ vào mô hình bệnh tật và kinh phí của bệnh viện. HĐT& ĐT có nhiệm vụ giúp Giám đốc lựa chọn, xây dựng danh mục thuốc theo nguyên tắc được quy định tại Thông tư 21/2013/TT-BYT như sau [2]: - Đảm bảo phù hợp với mô hình bệnh tật và chi phí về thuốc dùng điều trị trong bệnh viện; - Phù hợp về phân tuyến chuyên môn kỹ thuật, phù hợp với phạm vi chuyên môn của bệnh viện; - Đáp ứng với các phương pháp mới, kỹ thuật mới trong điều trị; - Thống nhất với DMT do Bộ Y tế ban hành; - DMT bệnh viện phải được rà soát, bổ sung, hiệu chỉnh hàng năm cho phù hợp với tình hình thực tế điều trị. Các bước xây dựng danh mục thuốc [2] Bước 1: Thu thập, phân tích tình hình sử dụng thuốc năm trước về số lượng và giá trị sử dụng, phân tích ABC/VEN, thuốc kém chất lượng, thuốc hỏng, các phản ứng có hại của thuốc, các sai sót trong điều trị trên các nguồn gốc thông tin đáng tin cậy; Bước 2: Đánh giá các thuốc đề nghị bổ sung hoặc loại bỏ từ các khoa lâm sàng một cách khách quan; Bước 3: Xây dựng DMT và phân loại các thuốc trong danh mục theo nhóm điều trị và phân loại VEN; Bước 4: Xây dựng các nội dung hướng dẫn sử dụng danh mục (ví dụ như thuốc hạn chế sử dụng, thuốc cần hội chẩn, thuốc gây nghiện, hướng tâm thần. Bước 5: Tập huấn, hướng dẫn cho cán bộ y tế sử dụng DMT Bước 6: Định kỳ hàng năm đánh giá, sửa đổi, bổ sung DMT 1.
Tổng quan về một số phương pháp phân tích dữ liệu sử dụng thuốc tại bệnh viện Theo Thông tư 21/2013/TT-BYT ngày 08 tháng 08 năm 2013 của BYT “Quy định về tổ chức và hoạt động của HĐT& ĐT trong bệnh viện, có các phương pháp phân tích được áp dụng để pháp hiện các vấn đề về sử dụng thuốc tại đơn vị" 1. Phương pháp phân tích nhóm điều trị [2] Khái niệm: Phân tích nhóm điều trị là phương pháp phân tích việc sử dụng thuốc dựa vào đánh giá số lượng sử dụng và giá trị tiền thuốc của các nhóm điều trị. Phân tích nhóm điều trị giúp: - Xác định những nhóm điều trị có mức tiêu thụ thuốc cao nhất và chi phí nhiều nhất. - Trên cơ sở thông tin về tình hình bệnh tật, xác định những vấn đề sử dụng thuốc bất hợp lý.
- Xác định những thuốc đã bị lạm dụng hoặc những thuốc mà mức tiêu thụ không mang tính đại diện cho những ca bệnh cụ thể. - HĐT&ĐT lựa chọn những thuốc có chi phí hiệu quả cao nhất trong các nhóm điều trị và thuốc lựa chọn trong liệu pháp điều trị thay thế. Phương pháp phân tích ABC [2] Khái niệm: phân tích ABC là phương pháp phân tích tương quan giữa lượng 3 thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí nhằm phân định ra những thuốc nào chiếm tỷ lệ lớn nhất trong ngân sách cho thuốc của BV. Ưu điểm: giúp xác định xem phần lớn ngân sách được chi trả cho những thuốc nào, từ đó xem xét tính hợp lý trong việc sử dụng thuốc cũng như ngân sách cho từng thuốc, từng nhóm thuốc, giúp tư vấn cho HĐT&ĐT trong việc lựa chọn thuốc và phân bổ ngân sách mua thuốc phù hợp hơn Nhược điểm: không cung cấp được đầy đủ các thông tin để so sánh những thuốc có hiệu lực khác nhau, xác định nhóm thuốc nào quan trọng thiết yếu hay không thiết yếu để ưu tiên mua sắm.
Phương pháp phân tích VEN [2] Khái niệm: phân tích VEN là phương pháp giúp xác định ưu tiên cho hoạt động mua sắm và tồn trữ thuốc trong BV khi nguồn kinh phí không đủ để mua toàn bộ các loại thuốc như mong muốn. Trong phân tích VEN, các thuốc được phân chia thành 3 hạng mục cụ thể như sau: + Thuốc V (Vital drugs) - là thuốc sống còn, dùng trong trường hợp cấp cứu hoặc các thuốc quan trọng, nhất thiết phải có để phục vụ công tác KCB của BV. + Thuốc E (Essential drugs) - là thuốc thiết yếu, dùng trong các trường hợp bệnh ít nghiêm trọng hơn nhưng vẫn là các bệnh lý quan trọng trong MHBT của BV. + Thuốc N (Non-Essential drugs)- là thuốc không thiết yếu, dùng trong các trường hợp bệnh nhẹ, bệnh có thể tự khỏi, có thể bao gồm các thuốc mà hiệu quả điều trị còn chưa được khẳng định rõ ràng hoặc giá thành cao không tương xứng với lợi ích lâm sàng của thuốc.
Phân tích VEN giúp HĐT&ĐT xác định nhóm thuốc sống còn, thuốc thiết yếu, thuốc không thiết yếu, ưu tiên cho lựa chọn thuốc, xác định thuốc cần mua và quản lý tồn kho: - Về lựa chọn thuốc: thuốc nhóm V, thuốc nhóm E được ưu tiên lựa chọn, đặc biệt trong trường hợp ngân sách hạn hẹp - Về mua sắm thuốc: thuốc nhóm V, thuốc nhóm E cần có kiểm soát tồn kho, dự trữ cần thiết, giảm dự trữ các thuốc nhóm N. - Về sử dụng thuốc: theo dõi, kiểm soát thuốc sử dụng, xem xét số lượng sử dụng các thuốc nhóm V và thuốc nhóm E, hạn chế sử dụng thuốc nhóm N. - Về dự trữ thuốc: chú ý các thuốc nhóm V, E có một số lượng tồn kho an toàn 4 nhất định. Phân tích VEN cho phép so sánh những thuốc có hiệu lực điều trị và khả năng sử dụng khác nhau, khác với phân tích ABC và phân tích nhóm điều trị chỉ có thể so sánh những nhóm thuốc có cùng hiệu lực điều trị.
Phương pháp phân tích ma trận ABC/VEN Sau khi thực hiện phân tích ABC và phân loại VEN, khi kết hợp 2 phương pháp phân tích ABC, VEN tạo thành ma trận ABC/VEN nhằm tìm mối quan hệ giữa các thuốc có chi phí cao với mức độ ưu tiên. Việc kết hợp giữa phân tích ABC và phân loại VEN được thể hiện theo bảng sau: Nhóm V E N A AV AE AN B BV BE BN C CV CE CN Từ đó hình thành nên 3 nhóm I, II, III với các mức độ giám sát khác nhau: - Nhóm I: AV, BV, CV, AE, AN: Giám sát mức độ cao nhất (vì cần nhiều ngân sách hoặc cần thiết cho điều trị). Đặc biệt đối với các thuốc AN là các thuốc không thiết yếu nhưng chiếm chi phí cao thì cần phải hạn chế sử dụng hoặc loại khỏi DMTBV. - Nhóm II: BE, CE, BN: Giám sát mức độ thấp hơn.
- Nhóm III: CN: Giám sát mức độ thấp. Ứng dụng phương pháp phân tích ma trận ABC/VEN có vai trò giúp HĐT và ĐT nhận định vấn đề trong cung ứng thuốc bất hợp lý, tối ưu hóa nguồn lực, giúp quản lý các thuốc theo thứ tự ưu tiên, đặc biệt là nhóm A, loại bỏ các thuốc không cần thiết. Các văn bản pháp luật liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của đề tài - Một số văn bản hướng dẫn thực hiện sử dụng thuốc Thông tư 22/2011/TT-BYT ngày 10/6/2011 của Bộ Y tế quy định về tổ chức và hoạt động của khoa dược bệnh viện: “Khoa Dược là khoa chuyên môn chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Giám đốc bệnh viện.